Ngồi nhìn nắng mùa Đông nhàn nhạt qua cây lá ở sân sau nhà, nghe bản nhạc lại chợt nhớ đến những khu vườn đã sống thuở thiếu thời. Với phong tục truyền thống "con so về nhà mạ" nên sinh ra ở quê ngoại, lên sáu mới về quê nội, cả hai nơi đều được sống trong những khu vườn chứa nhiều kỷ niệm nho nhỏ của tuổi thơ. Đã quá lâu, hình ảnh cũng khá mơ hồ chỉ còn lại những cảm giác váng vất khi nhớ về.
Hiển thị các bài đăng có nhãn KÝ ỨC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KÝ ỨC. Hiển thị tất cả bài đăng
VƯỜN XƯA
Ngồi nhìn nắng mùa Đông nhàn nhạt qua cây lá ở sân sau nhà, nghe bản nhạc lại chợt nhớ đến những khu vườn đã sống thuở thiếu thời. Với phong tục truyền thống "con so về nhà mạ" nên sinh ra ở quê ngoại, lên sáu mới về quê nội, cả hai nơi đều được sống trong những khu vườn chứa nhiều kỷ niệm nho nhỏ của tuổi thơ. Đã quá lâu, hình ảnh cũng khá mơ hồ chỉ còn lại những cảm giác váng vất khi nhớ về.VÔI ĐÁ TRÊN THÀNH
Thành phố có gốc là thuộc địa Tây Ban Nha, buổi chiều Đông lái xe ngang qua khu downtown với những ngôi nhà kiến trúc Âu Châu cũ có nhiều nét gần gũi với Huế, cũng màu sơn vàng úa, những khung cửa sổ gỗ xanh, nâu và những con đường cũng nho nhỏ buồn buồn. Khung cảnh như một chứng tích vàng son của ai đó không dưng lại khiến nhớ về thành nội Huế của những tháng ngày xưa cũ với nhiều kỷ niệm, nhớ đến nao người.Thành nội đối với tôi vẫn như trái tim của Huế, bí ẩn và gây nhiều cảm xúc từ thuở thiếu niên cho đến khi trưởng thành. Tôi ở ngoại thành gần phố chợ trung tâm, tuổi mới lớn, hồn nhiên, yêu đời phơi phới nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần vào Thành nội, vừa qua cửa thành là thấy tâm hồn đã khác, lòng chợt dịu đi và man mác một nỗi quan hoài không có căn cứ, có lẽ cái cảnh vật gợi nhớ một thời đã qua, tuy chưa lâu lắm đã thành lịch sử, chỉ còn lại di tích là những con đường nhỏ nhắn ngang dọc, những ngôi nhà cổ kính rêu phong trong những khu vườn cây cối um tùm đầy những miếu thờ nhỏ, thần linh như hiện diện khắp nơi, huyền bí và rờn rợn. Đi giữa lòng Thành nội nhất là vào buổi xế chiều, dọc theo những con đường bên tường thành cũ rêu phong mới cảm nhận được thế nào là cái đẹp của tịch lặng, của mang mang tiếc nuối, của lòng chùng xuống không rõ vì đâu cho dù ai là người sôi nổi, lừng lẫy giữa đời thường, dường như cái không khí u uất của tiền nhân đã nén lại đậm đặc trong cái không gian này đến nổi cả ánh đèn đường cũng hiu hắt, âm u hơn nơi khác; dưới bóng hoàng hôn, Đại Nội hoang phế vẫn sừng sửng uy nghi, vẫn như còn ẩn chứa bên trong bao điều bí mật cung đình ngày xưa.
NHỚ MỘT TIẾNG ĐÀN LẠ
Mùa hè đỏ lửa 72, sau hơn một tháng cùng gia đình sơ tán vào Đà Nẵng một mình tôi trở lại Huế trước. Dân tản cư đang dần dần trở về, tuy vậy thành phố còn vắng lặng thưa thớt người, không khí chiến tranh như vẫn còn bao trùm khắp thành phố cho dù chiến trận thực sự ở tận ngoài Quảng Trị và dường như đã tạm thời kết thúc. Nắng gắt, những chùm hoa phượng vô tư đỏ rực, giòng sông xanh biếc lặng lờ thản nhiên,
NHỚ MỘT MÙA ĐÔNG
nhớ Hồ Đăng Điền
(thằng bạn từ thuở ấu thời chết trận năm 1974)

(thằng bạn từ thuở ấu thời chết trận năm 1974)

Ở Mỹ không như quê nhà bây giờ mới là những ngày cuối cùng của mùa Thu, những cơn gió lạnh buốt thổi tung những chiếc lá úa cuối cùng trên những hàng cây trong công viên trước mặt nhà, sáng thức dậy lá rụng đầy sân sau, buổi giao mùa năm nay mạnh mẽ hơn mọi năm, người ra đi như vội vã, kẻ đến không ngập ngừng với những cơn mưa lạnh lâm râm kéo dài suốt chiều tối, trời xám xịt không có hoàng hôn chuyển tiếp sao giống những ngày Đông xứ Huế đến lạ lùng. Những ngày cuối năm tất cả công việc chậm lại, xe cộ thưa thớt ngọai trừ những khu mua sắm và phi trường, mùa Giáng Sinh cho đến năm mới tất cả đều dành cho gia đình.
Chiều nay có được cuộc hạnh ngộ bạn bè không lường trước, một thằng bạn từ tiểu bang xa qua thăm con ở gần thành phố mình, hai thằng khác tuy ở cùng thành phố nhưng do công việc và nơi ở xa nhau hiếm khi gặp. Bốn thằng ngày xưa chỉ học chung trường đệ nhất cấp,đến xứ người ở bốn thời điểm khác nhau, thằng lâu nhất đi du học đã 36 năm, thằng tiếp 32 năm, rồi thằng 22 năm, riêng mình muộn nhất mới có…15 năm và một trùng hợp ngẫu nhiên là ngày hôm qua là vừa tròn 15 năm, hiếm ai làm kỷ niệm ngày lưu lạc, chỉ buồn thêm. Cả bốn đứa đều có nhiều lần về thăm cố hương, có thằng thậm chí về hằng năm, nhưng chiều nay với cái không gian thấm đẫm mưa và lạnh này tất cả đều rưng rưng nhớ lại những mùa Đông xứ Huế một thời tuổi trẻ, cái không gian và thời gian trong tâm thức đã vĩnh viễn không bao giờ trở lại.
Chiều nay có được cuộc hạnh ngộ bạn bè không lường trước, một thằng bạn từ tiểu bang xa qua thăm con ở gần thành phố mình, hai thằng khác tuy ở cùng thành phố nhưng do công việc và nơi ở xa nhau hiếm khi gặp. Bốn thằng ngày xưa chỉ học chung trường đệ nhất cấp,đến xứ người ở bốn thời điểm khác nhau, thằng lâu nhất đi du học đã 36 năm, thằng tiếp 32 năm, rồi thằng 22 năm, riêng mình muộn nhất mới có…15 năm và một trùng hợp ngẫu nhiên là ngày hôm qua là vừa tròn 15 năm, hiếm ai làm kỷ niệm ngày lưu lạc, chỉ buồn thêm. Cả bốn đứa đều có nhiều lần về thăm cố hương, có thằng thậm chí về hằng năm, nhưng chiều nay với cái không gian thấm đẫm mưa và lạnh này tất cả đều rưng rưng nhớ lại những mùa Đông xứ Huế một thời tuổi trẻ, cái không gian và thời gian trong tâm thức đã vĩnh viễn không bao giờ trở lại.
CÀ PHÊ MỘT THUỞ
![]() |
| Quán Dạ Thảo- Chi Lăng , Huế |
CĂN NHÀ XƯA
Rời khỏi căn nhà chính thức từ tháng 3 năm 1985. Chiến tranh, loạn lạc, di chuyển khiến bao nhiêu hình ảnh trong căn nhà dù không nhiều đều mất sạch. Trong số những tấm hình đó hình như không có một hình ảnh nào phối cảnh căn nhà cả. Khoảng năm 2000 chủ mới đập bỏ toàn bộ căn nhà. Gần 30 năm mỗi khi nhớ lại, toàn bằng ký ức và tiếc nuối mãi những tấm hình không giữ được. Chiều cuối tuần lướt internet, ngẫu nhiên thấy hình căn nhà được ghi chú chụp năm 70. Tấm hình ai đó chụp hoặc từ bên kia sông bằng ống kính Télé hoặc trên con đò giữa sông.
Và mừng đến chảy nước mắt.
Và mừng đến chảy nước mắt.
MỘT BÀI THƠ GẶP LẠI của nhà thơ NGÔ KHA
Bài thơ được chép lại theo trí nhớ của Lê Đình Đống( cựu học sinh Quốc học và ĐH Sư phạm- Huế)
Kinh hòa bình
(Kính dâng hương hồn chiến sĩ hòa binh Đại Đức Thích Chơn Thể)
Sáng hôm nay giữa rừng người mà thấy lạnh
Phố phường xanh nhưng tâm sự não nùng
Anh đi rồi, ngày tháng hạ buồn tênh
Nghe nhức nhối thân tôi còn ở lại
Công viên ấy sáng vĩnh viễn
Thuyền anh đi chở lửa với than hồng
Anh lìa đời theo tiếng gọi núi sông
Đốt nhục thể soi hòa bình dân tộc
Anh còn trẻ, tuổi vừa hai mươi bảy
Nhưng tình yêu người xã hội kết tinh
Bằng khí thiêng sông núi đã nấu nung
Ngọn đuốc anh mở đường kinh thánh mới
Anh đã khuất bên bờ sông thơ mộng ấy
Với cỏ xanh lịm tắt dưới chân người
Khi mùa xuân cũng vừa mới ra đi
Nay đầu hạ còn hoa vông và lựu đỏ
Này cố đô những con đường man mác
Sớm và chiều đỉnh Ngự với dòng Hương
Ngày bỗng dài hơn Nắng đổ sục sôi buồn
Tôi thầm hỏi mai anh về đâu đó
Đây phủ cũ lời ca xưa còn đậu
Tiếng chuông chùa kinh kệ mãi ngân nga
Cữa thành Tây về xóm vắng ngoại ô
Đường đất đỏ chạy dài như thảm máu
Đây cửa Hữu thấy đời như bỏ phế
Quách thành đổ nghiêng
Quá khứ gục đầu
Ôi vàng son và giả tạo ngày xưa
Nay em bé buổi chiều bịt khăn tang nhịn đói
Anh đã tịch như lá vàng đổ xuống
Cho rừng cây trức nụ sống tương lai
Ngọn đuốc anh sưởi ấm cõi tình người
Cho sinh lực bùng lên triệu dòng máu Việt
Cho mặt trời hòa bình rực rỡ giữa nhân gian
Máu của anh đã túa từng hàng
Từ mắt, từ môi, từ những tia sáng thể dựng đời cơm áo
Như chóa vinh quang chiếu xuống cho đời
Anh đi rồi, khói nồng còn ấp ủ công viên
Với nhục thể thành than
Cuộc lưu thân vừa mãn hạn
Người ở lại nhìn mùa trăng Phật đản
Với hoa đèn như lệ thắp đêm đen
Với rừng người đi địa chấn trên đường
Làm rung chuyển đến mười phương tỉnh mạc
Dân tộc đó còn xót xa thân phận
Hoa lệ nầy sao chớm thấy đau thương
Tình người hôm nay biểu hiện giữa công trường
Anh có thấy cô đơn những ngày đi tìm đại nghĩa
Chiều hôm qua bên công viên Đồng Khánh
Anh thở dài rồi ngấn nước mắt sa
Rồi ngũ đỗ một đêm sâu cô tịch
Anh đã đến tổng hội sinh viên
Ngõ lời xin thực hiện
Nhưng thương anh,ái ngại, sinh viên không dám nhận lời
Anh còn tin tưởng ở ai
Nên đêm xuống tìm công viên ghế đá
Nhất quyết xã thân cho ý chí hòa bình.
Ngô Kha
Kinh hòa bình
(Kính dâng hương hồn chiến sĩ hòa binh Đại Đức Thích Chơn Thể)
Sáng hôm nay giữa rừng người mà thấy lạnh
Phố phường xanh nhưng tâm sự não nùng
Anh đi rồi, ngày tháng hạ buồn tênh
Nghe nhức nhối thân tôi còn ở lại
Công viên ấy sáng vĩnh viễn
Thuyền anh đi chở lửa với than hồng
Anh lìa đời theo tiếng gọi núi sông
Đốt nhục thể soi hòa bình dân tộc
Anh còn trẻ, tuổi vừa hai mươi bảy
Nhưng tình yêu người xã hội kết tinh
Bằng khí thiêng sông núi đã nấu nung
Ngọn đuốc anh mở đường kinh thánh mới
Anh đã khuất bên bờ sông thơ mộng ấy
Với cỏ xanh lịm tắt dưới chân người
Khi mùa xuân cũng vừa mới ra đi
Nay đầu hạ còn hoa vông và lựu đỏ
Này cố đô những con đường man mác
Sớm và chiều đỉnh Ngự với dòng Hương
Ngày bỗng dài hơn Nắng đổ sục sôi buồn
Tôi thầm hỏi mai anh về đâu đó
Đây phủ cũ lời ca xưa còn đậu
Tiếng chuông chùa kinh kệ mãi ngân nga
Cữa thành Tây về xóm vắng ngoại ô
Đường đất đỏ chạy dài như thảm máu
Đây cửa Hữu thấy đời như bỏ phế
Quách thành đổ nghiêng
Quá khứ gục đầu
Ôi vàng son và giả tạo ngày xưa
Nay em bé buổi chiều bịt khăn tang nhịn đói
Anh đã tịch như lá vàng đổ xuống
Cho rừng cây trức nụ sống tương lai
Ngọn đuốc anh sưởi ấm cõi tình người
Cho sinh lực bùng lên triệu dòng máu Việt
Cho mặt trời hòa bình rực rỡ giữa nhân gian
Máu của anh đã túa từng hàng
Từ mắt, từ môi, từ những tia sáng thể dựng đời cơm áo
Như chóa vinh quang chiếu xuống cho đời
Anh đi rồi, khói nồng còn ấp ủ công viên
Với nhục thể thành than
Cuộc lưu thân vừa mãn hạn
Người ở lại nhìn mùa trăng Phật đản
Với hoa đèn như lệ thắp đêm đen
Với rừng người đi địa chấn trên đường
Làm rung chuyển đến mười phương tỉnh mạc
Dân tộc đó còn xót xa thân phận
Hoa lệ nầy sao chớm thấy đau thương
Tình người hôm nay biểu hiện giữa công trường
Anh có thấy cô đơn những ngày đi tìm đại nghĩa
Chiều hôm qua bên công viên Đồng Khánh
Anh thở dài rồi ngấn nước mắt sa
Rồi ngũ đỗ một đêm sâu cô tịch
Anh đã đến tổng hội sinh viên
Ngõ lời xin thực hiện
Nhưng thương anh,ái ngại, sinh viên không dám nhận lời
Anh còn tin tưởng ở ai
Nên đêm xuống tìm công viên ghế đá
Nhất quyết xã thân cho ý chí hòa bình.
Ngô Kha
KỂ CHUYỆN GẶP MA
Từ nhỏ ai cũng thích nghe kể chuyện ma, một cái quyến rũ lạ lùng của cảm giác sợ hãi, rờn rợn, nhất là vào những đêm Đông cứ co rút trong mền, không dám ra ngoài, yếu bóng vía một chút đêm có khi nằm mơ hoảng, toát mồ hôi lạnh, vậy vẫn cứ thích nghe. Cái không gian sống đầy thần linh của Huế, nơi đi đâu cũng gặp miếu thờ, am cúng chiều tối đầy nhang khói khiến dễ tin có ma hơn nơi khác.
MỘT CHIỀU XUÂN XƯA
Quê nhà lại đang độ vào Xuân với những bước lững thững cuối năm, chắc hẳn trời vẫn còn đang lạnh, có những cơn mưa Xuân nhẹ nhưng nắng màu bắt đầu tươi và hoa lá cũng bắt đầu tuổi mới. Ở đây những ngày mưa dầm dề cũng đã tạm qua, gió vẫn lạnh buốt trong cái nắng hanh hanh, buổi chiều xuống phố Việt hàng Tết đã bắt đầu nhộn nhịp, không thấy thiếu món gì, có chăng tất cả không khí Tết chỉ giới hạn trong một không gian nhỏ của các khu thương xá Việt và Hoa, ra khỏi là lại cuốn ngay vào sinh hoạt của xứ người.
MÙA ĐÔNG CHIẾN TRANH Ở HUẾ
Xin được nói với em lời chân tình
trong lò lửa chiến tranh tôi chỉ là thỏi sắt
với ngày tháng trái cây treo rực đỏ đầu cành
lao đầu vào tuyệt vọng
nên muốn thố lộ cùng em
đêm tối mùa Đông
cửa ngõ hồn tôi không đèn không đuốc
dù ngọn nến thắp lên để tiễn chân một ngày
theo điệu kèn đưa ma của ban quân táng
dù hư vô đã trở về từng giọt nước
từ nhà xác khổng lồ
khu rừng đang đứng gác
bên hành lang giòng sông trần tình cuộc chiến
những lũy thành dựng lên từ tiếng kêu hoang
với mảnh trăng im lìm trong cơn sốt rét
dưới chân kỳ đài dựng bia tử sĩ
tôi thấy lá cờ vàng bọc áo quan thủy tinh
giòng nước đen vẫn im lìm trôi
như những lời cầu nguyện
tôi nhìn thấy tháp chuông
mưa thì vẫn không thôi ru hoài điệu cổ điển
mưa vẫn không thôi ru hờ trên cao
núp dưới tàn cây sồi những ngôi nhà cổ kính
thánh thần đã ngủ yên
trong chiếc nôi thủy thạch
các phiên khúc trùng âm nhức buốt
của người nghệ sĩ cổ truyền
những tiếng ngũ âm chảy trên gỗ quí
như nốt ruồi cô đơn
di động trong tim
bóng tối Việt Nam
mấy nghìn năm trên thành quách này
đã vùi chôn trong lòng thiên thể
trên cánh tay vàng úa của mùa Đông
nổi chết truyền đi qua từng chiếc lá
tôi nghe tiếng động cơ của chiếc xe đêm
âm thầm làm vệ sinh cho thành phố
đang tiến về từ các cống rãnh
như một lũ chuột đồng
tôi thấy người vô danh đi trên vĩa hè
tìm kiếm người thân yêu trên bảng số
khi trời đổ mưa
tôi thấy người chị
tay cầm nén nhang
với vầng mây cô đơn trải làm khăn chế
tôi thấy người lính trẻ
chĩa súng dài trên mặt nước
với giòng sông
tôi thấy đứa trẻ mồ côi
ngước nhìn ảnh cha
với hình ảnh tương lai trên chiến địa
tôi vẫn thấy thành phố nằm ở đó
ôm em trong vòng đai an toàn
của kẽm gai cọc sắt
tôi trú ẩn ngoại ô
từng đêm đen mất ngủ
con đường tôi đến thăm em
cửa thành thường đóng kín
tiếng côn trùng vọng mãi đêm đêm
tôi thấy dưới ánh đèn khuya
gương mặt Việt- nam vỡ ra từng mảnh
trên bức tượng già của Đại-nội
em đã đóng kín cổng giờ nầy
gió từ bức tường câm phả lại
trên đầu tôi
bầu trời căng như một cánh cung
sợi tóc chĩa vào lòng đêm
như những mũi tên không kỳ hạn
đang trổ một con đường.
NGÔ KHA -Huế 11.69
trong lò lửa chiến tranh tôi chỉ là thỏi sắt
với ngày tháng trái cây treo rực đỏ đầu cành
lao đầu vào tuyệt vọng
nên muốn thố lộ cùng em
đêm tối mùa Đông
cửa ngõ hồn tôi không đèn không đuốc
dù ngọn nến thắp lên để tiễn chân một ngày
theo điệu kèn đưa ma của ban quân táng
dù hư vô đã trở về từng giọt nước
từ nhà xác khổng lồ
khu rừng đang đứng gác
bên hành lang giòng sông trần tình cuộc chiến
những lũy thành dựng lên từ tiếng kêu hoang
với mảnh trăng im lìm trong cơn sốt rét
dưới chân kỳ đài dựng bia tử sĩ
tôi thấy lá cờ vàng bọc áo quan thủy tinh
giòng nước đen vẫn im lìm trôi
như những lời cầu nguyện
tôi nhìn thấy tháp chuông
mưa thì vẫn không thôi ru hoài điệu cổ điển
mưa vẫn không thôi ru hờ trên cao
núp dưới tàn cây sồi những ngôi nhà cổ kính
thánh thần đã ngủ yên
trong chiếc nôi thủy thạch
các phiên khúc trùng âm nhức buốt
của người nghệ sĩ cổ truyền
những tiếng ngũ âm chảy trên gỗ quí
như nốt ruồi cô đơn
di động trong tim
bóng tối Việt Nam
mấy nghìn năm trên thành quách này
đã vùi chôn trong lòng thiên thể
trên cánh tay vàng úa của mùa Đông
nổi chết truyền đi qua từng chiếc lá
tôi nghe tiếng động cơ của chiếc xe đêm
âm thầm làm vệ sinh cho thành phố
đang tiến về từ các cống rãnh
như một lũ chuột đồng
tôi thấy người vô danh đi trên vĩa hè
tìm kiếm người thân yêu trên bảng số
khi trời đổ mưa
tôi thấy người chị
tay cầm nén nhang
với vầng mây cô đơn trải làm khăn chế
tôi thấy người lính trẻ
chĩa súng dài trên mặt nước
với giòng sông
tôi thấy đứa trẻ mồ côi
ngước nhìn ảnh cha
với hình ảnh tương lai trên chiến địa
tôi vẫn thấy thành phố nằm ở đó
ôm em trong vòng đai an toàn
của kẽm gai cọc sắt
tôi trú ẩn ngoại ô
từng đêm đen mất ngủ
con đường tôi đến thăm em
cửa thành thường đóng kín
tiếng côn trùng vọng mãi đêm đêm
tôi thấy dưới ánh đèn khuya
gương mặt Việt- nam vỡ ra từng mảnh
trên bức tượng già của Đại-nội
em đã đóng kín cổng giờ nầy
gió từ bức tường câm phả lại
trên đầu tôi
bầu trời căng như một cánh cung
sợi tóc chĩa vào lòng đêm
như những mũi tên không kỳ hạn
đang trổ một con đường.
NGÔ KHA -Huế 11.69
NHƯ MỘT ĐƯỜNG DÂY HÚT GIÓ
tặng Ngô Kha
Từ biển cả mênh
mang với những cánh đồng cát trắng
tôi trở về thành
phố ngủ yên
buổi chiều thức
dậy trong khe núi
đá khô chờ giọt
mưa rưng rưng
ôi quê hương của
một dòng sông
với những triền
ngô tỏa mềm ánh sáng
những con đò đan
những vết thương
lên mình nước
dàn đi
những mảnh đời rách nát
tôi trở về để
nhìn tôi thiêu thân
và nhìn em đội
vòng gai hận thù rướm máu
những ngọn đuốc
năm xưa thắp màu hỏa hoàng lên áo ấy
và chiều buồn ru
mình vào tiếng ve
những cánh dơi
bay về cổ thành
và em làm giọt
mưa lăn xuống má
ấy thương yêu
gầy trong vành nón
và khổ đau lay
từng gót chân nai.
một buổi mai tôi
tung tăng ngoài lộ
như bóng mây
hồng còn đợi nắng phất phơ
tôi ngửa mặt đón
làn sương mai
từ mẩu tre ngà
khum vòng tay gió biếc
em lặng lờ như
tiếng hát
trong vườn cây
vả đã đơm bông
tôi níu chùm hoa
dâng một ngày đã mất
và hương hoa làm
ngây ngất hồn tôi
tôi đưa tinh tú
về bên dẫy núi
đón tay em từng
ngón vuốt ve
và thảm cỏ thở
mùi tóc trầm
và viền môi
quyện áng mây đưa
tôi ngửa mặt
nhìn tôi trong ánh mắt
thấy em về trong
cánh bướm hư vô.
vào trong ngõ lá
thuôn xác xơ màu tưởng niệm
tôi lạc mất tôi
trong thành phố và em
khi những bước
đi của loài rắn quanh co
còn vần vi bên
trái táo
những vết chân
của loài rất độc
còn cày sâu trên
vừng trán dòng sông
những bụi cỏ lấp
dần tiếng hót
của loài chim
mang định mệnh trong hồn
tôi ngỡ ngàng
đuổi theo em như một đường dây hút gió...
Huế, 1969
DIỄM CHÂU
(Tạp chí Đất Nước số 14, tháng
10-1969)
KÝ ỨC TẢN MẠN CHUYẾN VỀ THĂM HUẾ 2002
Ba ngày, chỉ có ba ngày để về thăm Huế.Máy bay đáp xuống phi trường Phú Bài, nóng hầm hập, đúng là cái nóng của Huế mùa hạ đây rồi, bất chợt rưng rưng, đã hơn 8 năm rồi chưa về Huế kể từ khi ra ở xứ người.
Về Thuận An thăm bà dì nuôi nấng từ nhỏ, dì đã gần 90, mắt nhòa, chỉ thấy cháu mờ mờ nhân ảnh, khóe mắt ướt, chỉ ướt thôi, một đời lận đận khổ đau còn đâu nước mắt.
Đêm không ngủ được, nghe dì lâm râm đọc kinh cầu an suốt, chỉ cầu cho N.N A được bình an nơi xứ lạ quê người. Ngày ra biển, bãi biển Thuận An chẳng thay đổi nhiều, nước vẫn xanh, trời vẫn trong, cát vẫn mịn, quán hàng vẫn nghèo nàn như xưa, chắc vì vậy mà khi nằm trên chiếc ghế hóng gió biển cứ như ngày xưa nên thấy lòng khỏe lại.
Về nhà nội, qua đường Bạch Đằng, con đường đẹp hơn xưa, bờ sông được làm kè đá với với hàng quán ăn thuộc khu ẩm thực phục vụ festival, ngôi nhà cũ 42 Bạch Đằng đã biến mất, ngôi nhà cổ kính ngày xưa nơi từng hội tụ biết bao bạn bè tuổi thanh xuân với những đêm thức trắng thơ nhạc rùm trời của một thời mộng mị coi trời bằng vung, với Khiếu, Triết, Đống, Phương, Thuận, Liêu, Bổng, Kỳ....ngôi nhà cũng đã là nơi hội tụ biết bao thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ của mọi miền. Giờ thì ngôi nhà đã không còn nhưng đừng hòng, nó vẫn còn mãi trong tâm tưởng ta, hy vọng nó cũng vẫn còn trong những ai từng ghé lại.
Nhà nội đây, vườn xưa qua thời cuộc nhỏ lại, không còn là vườn, nhà tiêu điều trống trãi, bàn thờ may thay vẫn còn ấm áp, nhang khói thường xuyên, người Huế vẫn luôn gần gủi với tổ tiên. Đứng lặng nhìn những hình ảnh ông cha chú, vẫn nhớ rõ mồn một thời còn sống. Kiểu này anh hùng nào không khóc huống hồ ta.
Xuống cuồng mồ thăm mộ ông bà nội, ba và Văn. Cuồng mồ dơ dáy không thể tưởng, như một bãi vệ sinh không cách gì vào được, đành đứng ngoài đường nhìn vào mộ vái và khấn thầm: sẽ dời mộ ngay.
Thăm anh V.Q, tình cảm không có gì khác xưa. Hai anh em ngồi uống bia bên bờ sông Hương, tuyệt, uống hoài không say nổi, không bia nào thắng nổi kẻ "qui cố quận" ngồi bên bờ sông quê hương, con sông khiến cho cả kinh thành Paris phải đố kỵ . Gọi Nhiên bạn luật cũ, có chức sắc, nhưng kệ cứ gọi.Nhiên tới ngay, cụng ly bia phán: tối mai tập hợp bạn bè chiêu đãi mi. Nghe có tình có lý. Nhìn xuống sông Hương, hai bên bờ ồn ào và tất bật với lễ hội, nhìn xéo cầu Trường Tiền đèn đóm 7 màu lung linh, đẹp mà lạc lõng khó ưa, duy chỉ có giòng sông cứ lặng lờ, trong vắt và êm đềm, chừng đó "cũng đủ lãng quên đời".
Gặp lại bạn bè Luật khoa Huế xưa, được chiêu đãi, được gặp lại bạn bè sau 25 năm"nghe truyền thanh không thấy truyền hình", thằng da nhăn nheo, thằng đầu hói, thằng tóc bạc phơ, thằng bụng bự, thằng may thay vẫn như xưa, hầu như đã có chức sắc, vẫn thân tình, vui vẻ chọc nhau như trẻ, bia cụng đều như đã được chinh chiến lâu ngày, mi mi tau tau đã đời...cái gì làm được điều này,cái tinh thần trường Luật Huế? cái tình bạn bè lâu không gặp?không hẳn, đây là sự quyến rũ của một hồi ức tuổi hai mươi, tuổi đẹp nhất và vô tư nhất đời người. Tiệc tan, hồi ức tan, ở Huế 9 giờ là về ngủ sớm cho dù đang là mùa lễ hội. Thật ấm ức, vẫn chưa say.
Trên đường lên nhà Nhuận dự lễ khánh thành nhà từ đường hắn bỏ công xây dựng từ xa tận Mỹ, con đường Thuận An-Huế không thay đổi nhiều, chạy ngang qua phủ Tuy Lý Vương thật bồi hồi, đây là nơi ở xưa của chị Tr.A, học trò và rồi là bạn gái của chú, nhớ gương mặt hiền, trắng tươi, đôi mắt một mí, mái tóc dài như bao gái Huế; tiểu thư con cháu Vương xưa, cô giáo ngày xưa, giờ đâu tá.
Ngang qua trường ĐK-QH, giờ là gần trưa, bên bờ sông Hương đang lễ hội đua ghe, mọi ồn ào náo nhiệt dồn về phía bờ sông, con đường giữa hai trường yên ắng. Phải dừng lại lúc này, ghé lề đường mua mấy lon bia, cô gái Huế bán hàng với nụ cười nửa Huế nửa festival bỏ bia lạnh vào túi, thêm một gói thuốc cho chắc ăn, giờ kiếm chổ ngồi, vệ đường giữa hai trường là lí tưởng, ngồi phía QH nhìn sang ĐK dễ tưởng tượng hơn. Lon bia thứ nhất mát mẻ tiêu trừ mệt nhọc, lon thứ hai hưng phấn đã lên, lon thứ ba...đã thấy mờ mờ nhân dáng những bóng hình yêu kiều ĐK ngày xưa,những gương mặt bạn bè một thời "cúp cua" ra ngó gái, mặt búng ra sữa bày đặt ngậm điếu thuốc trên môi....còn nhiều, còn nhiều hình ảnh nữa tất cả cứ chập chờn trong một tâm trạng chưa hề có. Nắng và nóng, phượng mùa hè rực rỡ, vẫn còn thiếu tiếng ve kêu. Một chiếc xe gắn máy chạy qua và rồi tiếng ve rộn rã, và là bắt đầu một cảm xúc thân quen lâu lắm rồi mới gặp lại, nó vượt lên tất cả cảm xúc khác, tiếng ve kêu trong một không gian mùa hạ Huế, con đường phượng bay, ngôi trường ĐK-QH quyện với những ký ức hiện về, lạ lắm lắm, khó lòng diễn tả, chỉ biết rằng tiếng ve kêu như một nét chấm phá cuối cùng cho một bức tranh cảm xúc hoàn hảo.
Chiều đi trên đường Chi Lăng, những căn phố vẫn cổ kính như xưa, con đường nhỏ lại, buồn buồn. Hai quán café ngày xưa vẫn uống với bạn bè đây rồi. Quán Dạ Thảo vẫn còn như cũ nhìn không có gì thay đổi nhìn vào vẫn có khách lưa thưa, quán Sương Lan đã biến mất giờ là một công ty, quán café tuổi trẻ ngày xưa có cô chủ quán xinh xinh , mặt bầu bĩnh, nàng tôn nữ nữ sinh ĐK , từng là một bóng hình đầy trăn trở cho biết bao thanh niên xứ Huế không biết giờ đi đâu.
Khi máy bay cất cánh rời Huế, vẫn chưa, cho đến khi máy bay đã bình ổn, nhìn qua cửa sổ trời xanh trong vắt, tiếng động cơ rì rì buồn buồn lúc đó mới thấy mình đang rời xa những gì mình thương yêu nhất, chợt buồn khủng khiếp, cho đến khi bước chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất nổi buồn vẫn không vơi, bất chợt nhớ một câu thơ Quang Dũng"hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi". Nhưng Huế đâu phải là mạn ngược mà "hồn về Sầm Nứa". Ồ, thôi mà, không biết làm thơ, đã mượn thơ người khác mà bày đặt lý sự.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

