Tác giả FB VinhHuy Le
* * *
“Khớp con ngựa ngựa ô
Ngựa ô anh thắng, anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen, búp sen lá dậm, dây cương dầm thắm, cán roi anh bịt đồng thòa
Là đưa ý a đưa nàng, đưa nàng, anh đưa nàng về dinh…”
Đó là ngựa Việt, trong điệu lý, là thứ tôi hổng rành, nên chỉ xin tán dóc ngựa trong truyện Tàu cho khỏi đụng chạm, vậy đi!
Tam tự kinh có câu: “Mã ngưu dương, Kê khuyển thỉ; Thử lục súc, Nhơn sở tự” (Ngựa trâu dê, Gà chó heo, Sáu súc vật, Người ta nuôi). Ngẫm đó thì thấy trong lục súc, dê heo gà được nuôi chỉ để mần thịt, còn trâu với chó vừa lấy thịt vừa để kéo xe, chỉ loài ngựa là riêng để cỡi, ít ai ăn thịt. Nên ngựa được xếp đứng đầu lục súc là vậy.
Xưa nay dân Tàu vẫn cho chó ngựa là bầu bạn của loài người. Chó để giữ nhà, ngựa dùng giữ nước, nên Hán thư có thành ngữ “Khuyển mã chi lao”, tỏ ý trung thần phụng thờ minh chúa. Tam quốc diễn nghĩa cũng có chữ “Khuyển mã đồ báo”: thề làm chó ngựa để đền đáp ơn tình với chủ.
Ở đây cần phân biệt “làm chó ngựa” là nói tấc dạ trung trinh, có khác với “làm trâu ngựa” lại hàm oán khí. Hãy nghe cô Kiều dặn cô Vân thay mình lấy Kim Trọng:
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai
Vụ “đền nghì trúc mai” chỉ là nói dóc. Vì “trúc mai” là rút gọn “Thanh mai trúc mã”, ý nói đôi bạn quen nhau từ nhỏ; còn Thúy Kiều mãi sau khi trổ mã mới được anh Trọng tới ve. Nhưng tới bốn chữ “Làm thân trâu ngựa” mới thiệt tả tâm trạng đành hanh của cô Kiều: Cũng là chị em một dạ sanh ra nhưng mình phải bán thân, nó được chồng bảnh. Đừng nói lúc đó Thúy Vân còn nhỏ, chẳng ai thèm mua, bởi dù gì nó cũng đã “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”…
Mà thôi, ba mớ thơ thẩn để dành các nhà “Kiều học” luận bàn, mình trở lại đề tài tán dóc đầu năm:
A. NGỰA TRONG TRUYỆN TÀU
Ngựa trong truyện Tàu hầu hết đều là ngựa chiến. Ta nói, ngựa cũng như người, phải là thứ ngựa chinh nam tảo bắc nắc trung ương mới được bằng khen kèm tử tuất; còn ba mớ ngựa thồ hòa trong đám vô danh, quanh năm chỉ biết ra đường nộp thuế qua trạm đóng phí thì ôi thôi, kể làm đách!
1. Ô CHUY CỦA HẠNG TỊCH:
Đứng đầu đám ngựa Tàu đó, đáng kể nhứt là Ô Chuy của Hạng Tịch. “Ô” tất nhiên là đen. Ngựa ô bất quá cũng như chó mực, mèo mun, đều thứ đen thui. Nhưng “Chuy” lại là pha với màu xanh. Tại vì ngựa nầy lông đen láng mượt lại ánh lên màu xanh lam. Đã vậy bốn vó nó đều có đốm trắng, nên tên đầy đủ chính là “Đạp tuyết Ô chuy”.
Ô Chuy được Tư Mã Thiên nêu tên trong Sử ký, cho là từ khi có tuấn mã nầy giúp xông pha ngàn dặm, Hạng Võ mới trở nên chiến thần vô địch.
Một đời Hạng Tịch, ngoài vụ làm vương làm bá ra, có hai sự khoái phi thường. Một là cưới được nàng Ngu Cơ da trắng như ngà, tóc mượt như mây, đúng điệu “Ô long quyển ngọc trụ” (Rồng đen quấn quanh trụ ngọc). Hai là có con Ô Chuy bốn vó trắng bông như đạp tuyết. Nói chung cả hai, thứ nào cỡi lên một bận cũng sướng cả đời. Bởi vậy sau nầy Tịch hết thời tự đâm cổ họng cũng đà thỏa kiếp.
2. ĐÍCH LÔ CỦA LƯU BỊ
Tới tuồng Tam quốc, được nhắc nhiều nhứt là Đích Lô của Lưu Bị. “Đích Lô” là tiếng để chỉ con ngựa ô có đốm trắng giữa trán. “Tướng mã kinh” nói đó là điềm báo tang. Đã vậy, đuôi mắt con quái nầy lại có nếp nhăn như hai hàng lệ chảy, là tướng “lụy tào”. Ai nấy đều ớn, cho là ngựa phản chủ. Riêng Bị tự cho mình chơn mạng bí thơ, há dễ bị con ngựa hại chết nên cứ cỡi nhong nhong.
Kịp khi bị Khoái Việt với Thái Mạo bày tiệc đãi, mưu toan bắt sống đứa lộng ngôn mạo nhận hoàng thân. Bị giả cớ đau bụng đi cầu, lén ra tháo dây buộc ngựa, thót lên yên nắm bờm thúc ngựa phóng thẳng. Dè đâu con mắc dịch lại bon ra Đàn Khê là chỗ sình lún tới háng. Bị chỉ còn biết ngửa mặt kêu trời, chửi con đĩ ngựa hại mình mất mạng. Thì Đích Lô hý vang, đứng tại chỗ khỏi cần lấy trớn, dậm vó một phát phóng ngoài ba trượng (cỡ chục thước), qua tuốt bên kia suối.
Cũng con Đích Lô nầy, sau đó Bị tặng cho Bàng Thống, thì Thống bị quân mai phục chết trong loạn tiễn, biến Phượng Sồ tiên sinh thành ra con nhím.
Qua đời Tây Tấn, có Tả tướng quân Dữu Lượng. Tay nầy có tiếng khẳng khái là vì khi con trai va chết, bên sui gia là Thượng thư lịnh Gia Cát Khôi đưa thơ tới, xin cho con gái mình được về nhà với tía má. Lượng hồi âm mới thiệt chí tình: “Lịnh ái còn trẻ, đáng lẽ nên cho về tái giá. Có điều mỗi khi nhớ tới đứa con trai đã khuất, tôi lại bùi ngùi tưởng nó chỉ mới qua đời hôm qua”. Sử nhà Tấn chỉ chép có vậy, không kể rõ hũ mắm đầu giàn đó sau nầy ai khui, nên hậu thế cũng khó phẩm bình.




