HUẾ CỦA TUI

   Đọc trên mạng một bài viết về Huế của một người có lẽ cùng thế hệ, có trí nhớ rất tốt về tháng ngày xưa. Rất thú vị .
  
PHƯỚC CÀ TỬNG

Tui là thằng bảo hoàng, bảo hoàng hơn cả Vua! Cái chi nằm trong bộ óc tui rồi thì tui không muốn đổi, và cũng không thể đổi được. Rứa mới kỳ! Có rứa cho nên từ ngày xa Huế đi kiếm cơm ở tận xứ sở của Vua Chế Mân hồi xưa, tui cứ bo bo giữ trong đầu hình ảnh Huế của tui - Huế của những tháng năm đầu đời cho đến khi biết yêu, rồi cưới vợ và … bỏ xứ ra đi.
Đi kiếm cơm thời nớ quá cực. Hai cấy dôn lương tháng sáu chục đồng giấy lộn nhân hai cọng thêm hai đồng sản khoa (ai mà biết hai đồng nớ để mần chi!) của mụ vợ tui nữa vị chi là một trăm hai mươi hai đồng. Mà nghĩ thử coai, mỗi buổi sáng nếu tui vô cantine kêu một ly cà phe (không có dấu mũ, không phải vì viết sai chính tả mà vì cà hoài không phê nên không thể goại là cà phê được) với năm điếu thuốc Lao Động hay Hoa Mai, Hải Đảo chi đó thì cũng tốn hết hai đồng, đi toong một ngày “lao động” của một tên thợ mổ! Bởi rứa đành nhịn để tiền mua bột “loạn xạ cốc” nuôi con. 

Cực thì cực nhưng hàng năm cũng ráng bồng bế nhau về Huế, trước thăm cha mẹ vợ, sau để thỏa mãn nỗi nhớ Huế khôn nguôi. Ráng cằn táy mua vé tàu ngồi lê ngồi lết mấy ngày trời, chờ tới Lăng Cô là bụng dạ bắt đầu sôi lên, qua Thừa Lưu, Cầu Hai, Đá Bạc mắt nhìn chăm chăm ra cửa sổ. Tới Truồi, Nong ngồi đứng không yên; qua Phú Bài, An Cựu nhấp nha, nhấp nhổm mong cho tới Ga Huế. Rứa mà khi xuống tàu, ra ga đón cyclo về nhà tự nhiên lại buồn thúi ruột! Ga Huế không giống như ngày xưa, khi tui còn chạy lên chạy xuống nhà thằng bạn có bà mẹ mở quán cơm ở đó. Đường Lê Lợi răng buồn chi lạ, có mô như những ngày áo trắng rợp đường xanh. Xe qua cầu Trường Tiền, thấy cái bảng tên Cầu Tràng Tiền tự nhiên nổi giận! Trường, không phải Tràng! Trường, không phải Tràng nghe, nghe chưa! Để rồi lại càng xông máu khi thấy hai bên cầu có hai cái cùm kẹp chặt mấy vài cầu. Trời hỡi Trời ngó xuống mà coai, cầu mà còn bị cùm huống chi là người! Chưa kể là sau ni còn thêm một mớ đèn xanh, đỏ, tím, vàng thấy phát khiếp! Về nhà, ngày lại ngày, tui xách xe đạp chạy quanh. Tìm chút kỷ niệm xưa cho bõ những ngày thương nhớ.

NĂM NGỌ TÁN DÓC CHUYỆN NGỰA

 


  Tác giả FB VinhHuy Le

 
 Trời đất xoay vần, Giáp tý luân hồi, ba nhồi bẩy nhét lại tới năm Ngọ. Nhưng kỳ nầy là Bính ngọ, cả thiên can lẫn địa chi đều thuộc Dương hỏa (Bính ngọ Song dương hỏa), báo điềm củi lửa phừng phừng. Cửu thiên tuế Điền Bá Quang vì vậy khuyên năm nay ai nấy phải đphòng,mỗi nhà sắm sẵn cái vòi xịt, ít nhứt là trong phòng tắm, nhớ kỹ đa nghen!


* * *

“Khớp con ngựa ngựa ô

Ngựa ô anh thắng, anh thắng kiệu vàng

Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen, búp sen lá dậm, dây cương dầm thắm, cán roi anh bịt đồng thòa

Là đưa ý a đưa nàng, đưa nàng, anh đưa nàng về dinh…”

Đó là ngựa Việt, trong điệu lý, là thứ tôi hổng rành, nên chỉ xin tán dóc ngựa trong truyện Tàu cho khỏi đụng chạm, vậy đi!

Tam tự kinh có câu: “Mã ngưu dương, Kê khuyển thỉ; Thử lục súc, Nhơn sở tự” (Ngựa trâu dê, Gà chó heo, Sáu súc vật, Người ta nuôi). Ngẫm đó thì thấy trong lục súc, dê heo gà được nuôi chỉ để mần thịt, còn trâu với chó vừa lấy thịt vừa để kéo xe, chỉ loài ngựa là riêng để cỡi, ít ai ăn thịt. Nên ngựa được xếp đứng đầu lục súc là vậy.

Xưa nay dân Tàu vẫn cho chó ngựa là bầu bạn của loài người. Chó để giữ nhà, ngựa dùng giữ nước, nên Hán thư có thành ngữ “Khuyển mã chi lao”, tỏ ý trung thần phụng thờ minh chúa. Tam quốc diễn nghĩa cũng có chữ “Khuyển mã đồ báo”: thề làm chó ngựa để đền đáp ơn tình với chủ.

Ở đây cần phân biệt “làm chó ngựa” là nói tấc dạ trung trinh, có khác với “làm trâu ngựa” lại hàm oán khí. Hãy nghe cô Kiều dặn cô Vân thay mình lấy Kim Trọng:

Tái sinh chưa dứt hương thề

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai

Vụ “đền nghì trúc mai” chỉ là nói dóc. Vì “trúc mai” là rút gọn “Thanh mai trúc mã”, ý nói đôi bạn quen nhau từ nhỏ; còn Thúy Kiều mãi sau khi trổ mã mới được anh Trọng tới ve. Nhưng tới bốn chữ “Làm thân trâu ngựa” mới thiệt tả tâm trạng đành hanh của cô Kiều: Cũng là chị em một dạ sanh ra nhưng mình phải bán thân, nó được chồng bảnh. Đừng nói lúc đó Thúy Vân còn nhỏ, chẳng ai thèm mua, bởi dù gì nó cũng đã “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”…

Mà thôi, ba mớ thơ thẩn để dành các nhà “Kiều học” luận bàn, mình trở lại đề tài tán dóc đầu năm:


A. NGỰA TRONG TRUYỆN TÀU


Ngựa trong truyện Tàu hầu hết đều là ngựa chiến. Ta nói, ngựa cũng như người, phải là thứ ngựa chinh nam tảo bắc nắc trung ương mới được bằng khen kèm tử tuất; còn ba mớ ngựa thồ hòa trong đám vô danh, quanh năm chỉ biết ra đường nộp thuế qua trạm đóng phí thì ôi thôi, kể làm đách!


1. Ô CHUY CỦA HẠNG TỊCH:


Đứng đầu đám ngựa Tàu đó, đáng kể nhứt là Ô Chuy của Hạng Tịch. “Ô” tất nhiên là đen. Ngựa ô bất quá cũng như chó mực, mèo mun, đều thứ đen thui. Nhưng “Chuy” lại là pha với màu xanh. Tại vì ngựa nầy lông đen láng mượt lại ánh lên màu xanh lam. Đã vậy bốn vó nó đều có đốm trắng, nên tên đầy đủ chính là “Đạp tuyết Ô chuy”.

Ô Chuy được Tư Mã Thiên nêu tên trong Sử ký, cho là từ khi có tuấn mã nầy giúp xông pha ngàn dặm, Hạng Võ mới trở nên chiến thần vô địch.

Một đời Hạng Tịch, ngoài vụ làm vương làm bá ra, có hai sự khoái phi thường. Một là cưới được nàng Ngu Cơ da trắng như ngà, tóc mượt như mây, đúng điệu “Ô long quyển ngọc trụ” (Rồng đen quấn quanh trụ ngọc). Hai là có con Ô Chuy bốn vó trắng bông như đạp tuyết. Nói chung cả hai, thứ nào cỡi lên một bận cũng sướng cả đời. Bởi vậy sau nầy Tịch hết thời tự đâm cổ họng cũng đà thỏa kiếp.


2. ĐÍCH LÔ CỦA LƯU BỊ


Tới tuồng Tam quốc, được nhắc nhiều nhứt là Đích Lô của Lưu Bị. “Đích Lô” là tiếng để chỉ con ngựa ô có đốm trắng giữa trán. “Tướng mã kinh” nói đó là điềm báo tang. Đã vậy, đuôi mắt con quái nầy lại có nếp nhăn như hai hàng lệ chảy, là tướng “lụy tào”. Ai nấy đều ớn, cho là ngựa phản chủ. Riêng Bị tự cho mình chơn mạng bí thơ, há dễ bị con ngựa hại chết nên cứ cỡi nhong nhong.

Kịp khi bị Khoái Việt với Thái Mạo bày tiệc đãi, mưu toan bắt sống đứa lộng ngôn mạo nhận hoàng thân. Bị giả cớ đau bụng đi cầu, lén ra tháo dây buộc ngựa, thót lên yên nắm bờm thúc ngựa phóng thẳng. Dè đâu con mắc dịch lại bon ra Đàn Khê là chỗ sình lún tới háng. Bị chỉ còn biết ngửa mặt kêu trời, chửi con đĩ ngựa hại mình mất mạng. Thì Đích Lô hý vang, đứng tại chỗ khỏi cần lấy trớn, dậm vó một phát phóng ngoài ba trượng (cỡ chục thước), qua tuốt bên kia suối.

Cũng con Đích Lô nầy, sau đó Bị tặng cho Bàng Thống, thì Thống bị quân mai phục chết trong loạn tiễn, biến Phượng Sồ tiên sinh thành ra con nhím.

Qua đời Tây Tấn, có Tả tướng quân Dữu Lượng. Tay nầy có tiếng khẳng khái là vì khi con trai va chết, bên sui gia là Thượng thư lịnh Gia Cát Khôi đưa thơ tới, xin cho con gái mình được về nhà với tía má. Lượng hồi âm mới thiệt chí tình: “Lịnh ái còn trẻ, đáng lẽ nên cho về tái giá. Có điều mỗi khi nhớ tới đứa con trai đã khuất, tôi lại bùi ngùi tưởng nó chỉ mới qua đời hôm qua”. Sử nhà Tấn chỉ chép có vậy, không kể rõ hũ mắm đầu giàn đó sau nầy ai khui, nên hậu thế cũng khó phẩm bình.

GIAO THỪA

 

ba mươi 
đêm náu mình trong tóc 
sao khuya đốm bạc mái đầu 
côn trùng như tiếng kinh đêm 
đồng xu thời gian quay tít 
ta một mình chếnh choáng giữa đêm sâu
 
ba mươi

những âm ba vọng về 
trải dài như dâu bể 
tiếng à ơi giấc ngủ trưa hè quê ngoại 
tiếng lục lạc con ngựa già 
xe thổ mộ lầm lủi triền đê

KHÚC THÁNG CHẠP

tháng chạp trôi như trút hơi tàn 
như chiếc gạt tàn đầy mẩu vụn 
ký ức lao xao tràn về hổn độn 
xoay xở hướng nào cũng thấy tàn phai

tháng chạp rầu rầu như tình đoạn cuối  
nửa chia ly nửa níu nhau về 
mưa cứ dầm như lời kể lể 
hỏi nhau hoài chẳng biết làm chi

Chú Ngô Kha (1967)

 


NHỚ MỘT NGƯỜI PHỐ CŨ

thế nào ta cũng gặp lại nhau
đã mấy mươi năm đá cũng thay màu
rêu phong đã phủ đường muôn nẻo
vẫn dấu đường mòn quanh quẩn hồn sâu

thế nào ta cũng gặp lại nhau
mưa có rơi trong tháng chạp bồi hồi
phố có ngậm ngùi tình xưa dậy
ta phố người nhớ phố cũ chưa nguôi

thế nào ta cũng gặp lại nhau
nhân ảnh chìm sâu còn dấu năm nào
hay đã tàn dần theo năm tháng
có chắc gì ta sẽ nhận ra nhau

TRONG TIỆM NƯỚC NGƯỜI HOA

LƯƠNG MINH

Mỗi lần anh tôi lên Sài Gòn đều rủ tôi đi ăn sáng tại tiệm Tân Sinh Hoạt. Có món gì ngon ở đó? Anh chỉ thích ngồi nhớ lại cái không khí cổ xưa nơi mà thuở xưa sáng nào tụi học trò chúng tôi cũng ngồi uống cà phê và nghe phổ ky truyền nhau ơi ới tiếng gọi bàn bằng thứ tiếng Hoa nói lóng rất thú vị mà người Hoa chính gốc nếu không quen cũng không hiểu được


Thế giới tiếng lóng

“Hai hoành thánh mì thoàn dách, lượng co sủi cảo tún lục”. Tiếng rao của anh phổ ky gọi cho anh đầu bếp. Từ đàng xa, người đầu bếp lặp lại tiếng kêu như rao hồi đáp là đã nghe tiếng đặt hàng.
Thoàn dách là bàn số 1 ở giữa, tún lục là bàn số 6 phía bên đông. Còn sủi cảo là bánh xếp nước (hơi giống hoành thánh có hình dẹp). Xưa kia trời vừa hừng sáng, hầu hết các tiệm nước người Hoa, mở tất cả đèn sáng choang, quạt máy 5 – 7 cái quay vù vù, năm ba anh phổ ky hỏi khách dùng chi, lập tức truyền khẩu lệnh gây náo nhiệt cả tiệm.

Họ quy định bên đông và bên tây của tiệm chứ không gọi bên trái và bên phải vì trái phải dễ nhầm do người đứng từ ngoài nhìn vào hay bên trong nhìn ra. Còn đông tây thì được định vị theo hướng mặt trời mọc và lặn. Cứ bên đông thì gọi là tún, bên tây thì gọi là sấy. Chính giữa gọi là thoàn. Tiệm nước thường có ba dãy bàn: đông (tún), tây (sấy) và giữa (thoàn), các số thứ tự thì dùng tiếng Quảng Đông dách, dì, xám, xây, ựng, lục mà kêu tới.

Hủ tiếu tô lớn thì gọi tố phảnh, tô nhỏ ít bánh thì gọi tái phảnh, tức nửa tô. Những từ ngữ dùng trong tiệm nước có cái thông dụng, nhiều người Việt trước đây đi tiệm nhiều cũng biết và nó bị Việt hoá. Thí dụ như dầu chao quảy, xíu mại, hoành thánh…

Ly cà phê đen nhỏ gọi là xây chừng, cà phê đen lớn gọi là tài chừng. Ngày nay uống cà phê không còn dùng ly lớn nên từ tài chừng ít được dùng. Ly nhỏ ở dưới quê dùng uống rượu được gọi là ly xây chừng, có viền chính giữa để hai người uống dễ “cắt đôi”.
Cà phê sữa thì gọi là xây nại, còn sữa nước sôi pha ít cà phê thì gọi là xây bạc sỉu, có chỗ gọi là bạc tẩy sỉu phé, tức sữa nước sôi cho một chút cà phê vào. Đúng ra từ chính thống của cà phê sữa là ca phé nại nhưng tại tiệm nước thì biến tấu thành như thế.

ĐÃNG TÌNH

cách xa vạn dặm
cánh nhạn đưa tin cũng rã rời
tình xuân đã cạn
mộng đời như nắng mùa đông

những con đường xưa vặn vẹo
uốn mình theo cuộc bể dâu

những hàng cây đột tử
ve sầu mất chốn dung thân


những tường thành loang lổ
bám mình từng mảng rêu xanh
người chợt về như cổ tích
rồi theo hoàng hạc mù tăm

phượng vỹ bên giòng sông đó
ai còn nhớ thuở điêu linh

BÂY GIỜ

Nhạc & Lời : HaThuy

 

NƠI TA Ở

nơi ta ở có trăng về phố cổ
đêm mộng quê nhà và mắt người xưa
gởi một đường mây bay về xa thẳm
tận chân trời mây đã về chưa ? 

nơi ta ở bạn bè như ly rượu
tình đầy vơi theo ủy khuất quê người
một ngày chợt hỏi còn hay mất
có khi qua hết cả một đời

HOÀNG HÔN - CUỐI NĂM HOÀNG HÔN

Nhạc & Lời Hà Thủy