Cực thì cực nhưng hàng năm cũng ráng bồng bế nhau về Huế, trước thăm cha mẹ vợ, sau để thỏa mãn nỗi nhớ Huế khôn nguôi. Ráng cằn táy mua vé tàu ngồi lê ngồi lết mấy ngày trời, chờ tới Lăng Cô là bụng dạ bắt đầu sôi lên, qua Thừa Lưu, Cầu Hai, Đá Bạc mắt nhìn chăm chăm ra cửa sổ. Tới Truồi, Nong ngồi đứng không yên; qua Phú Bài, An Cựu nhấp nha, nhấp nhổm mong cho tới Ga Huế. Rứa mà khi xuống tàu, ra ga đón cyclo về nhà tự nhiên lại buồn thúi ruột! Ga Huế không giống như ngày xưa, khi tui còn chạy lên chạy xuống nhà thằng bạn có bà mẹ mở quán cơm ở đó. Đường Lê Lợi răng buồn chi lạ, có mô như những ngày áo trắng rợp đường xanh. Xe qua cầu Trường Tiền, thấy cái bảng tên Cầu Tràng Tiền tự nhiên nổi giận! Trường, không phải Tràng! Trường, không phải Tràng nghe, nghe chưa! Để rồi lại càng xông máu khi thấy hai bên cầu có hai cái cùm kẹp chặt mấy vài cầu. Trời hỡi Trời ngó xuống mà coai, cầu mà còn bị cùm huống chi là người! Chưa kể là sau ni còn thêm một mớ đèn xanh, đỏ, tím, vàng thấy phát khiếp! Về nhà, ngày lại ngày, tui xách xe đạp chạy quanh. Tìm chút kỷ niệm xưa cho bõ những ngày thương nhớ.
miền xưa
Hà Thủy blog
HUẾ CỦA TUI
Cực thì cực nhưng hàng năm cũng ráng bồng bế nhau về Huế, trước thăm cha mẹ vợ, sau để thỏa mãn nỗi nhớ Huế khôn nguôi. Ráng cằn táy mua vé tàu ngồi lê ngồi lết mấy ngày trời, chờ tới Lăng Cô là bụng dạ bắt đầu sôi lên, qua Thừa Lưu, Cầu Hai, Đá Bạc mắt nhìn chăm chăm ra cửa sổ. Tới Truồi, Nong ngồi đứng không yên; qua Phú Bài, An Cựu nhấp nha, nhấp nhổm mong cho tới Ga Huế. Rứa mà khi xuống tàu, ra ga đón cyclo về nhà tự nhiên lại buồn thúi ruột! Ga Huế không giống như ngày xưa, khi tui còn chạy lên chạy xuống nhà thằng bạn có bà mẹ mở quán cơm ở đó. Đường Lê Lợi răng buồn chi lạ, có mô như những ngày áo trắng rợp đường xanh. Xe qua cầu Trường Tiền, thấy cái bảng tên Cầu Tràng Tiền tự nhiên nổi giận! Trường, không phải Tràng! Trường, không phải Tràng nghe, nghe chưa! Để rồi lại càng xông máu khi thấy hai bên cầu có hai cái cùm kẹp chặt mấy vài cầu. Trời hỡi Trời ngó xuống mà coai, cầu mà còn bị cùm huống chi là người! Chưa kể là sau ni còn thêm một mớ đèn xanh, đỏ, tím, vàng thấy phát khiếp! Về nhà, ngày lại ngày, tui xách xe đạp chạy quanh. Tìm chút kỷ niệm xưa cho bõ những ngày thương nhớ.
NĂM NGỌ TÁN DÓC CHUYỆN NGỰA
Tác giả FB VinhHuy Le
* * *
“Khớp con ngựa ngựa ô
Ngựa ô anh thắng, anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen, búp sen lá dậm, dây cương dầm thắm, cán roi anh bịt đồng thòa
Là đưa ý a đưa nàng, đưa nàng, anh đưa nàng về dinh…”
Đó là ngựa Việt, trong điệu lý, là thứ tôi hổng rành, nên chỉ xin tán dóc ngựa trong truyện Tàu cho khỏi đụng chạm, vậy đi!
Tam tự kinh có câu: “Mã ngưu dương, Kê khuyển thỉ; Thử lục súc, Nhơn sở tự” (Ngựa trâu dê, Gà chó heo, Sáu súc vật, Người ta nuôi). Ngẫm đó thì thấy trong lục súc, dê heo gà được nuôi chỉ để mần thịt, còn trâu với chó vừa lấy thịt vừa để kéo xe, chỉ loài ngựa là riêng để cỡi, ít ai ăn thịt. Nên ngựa được xếp đứng đầu lục súc là vậy.
Xưa nay dân Tàu vẫn cho chó ngựa là bầu bạn của loài người. Chó để giữ nhà, ngựa dùng giữ nước, nên Hán thư có thành ngữ “Khuyển mã chi lao”, tỏ ý trung thần phụng thờ minh chúa. Tam quốc diễn nghĩa cũng có chữ “Khuyển mã đồ báo”: thề làm chó ngựa để đền đáp ơn tình với chủ.
Ở đây cần phân biệt “làm chó ngựa” là nói tấc dạ trung trinh, có khác với “làm trâu ngựa” lại hàm oán khí. Hãy nghe cô Kiều dặn cô Vân thay mình lấy Kim Trọng:
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai
Vụ “đền nghì trúc mai” chỉ là nói dóc. Vì “trúc mai” là rút gọn “Thanh mai trúc mã”, ý nói đôi bạn quen nhau từ nhỏ; còn Thúy Kiều mãi sau khi trổ mã mới được anh Trọng tới ve. Nhưng tới bốn chữ “Làm thân trâu ngựa” mới thiệt tả tâm trạng đành hanh của cô Kiều: Cũng là chị em một dạ sanh ra nhưng mình phải bán thân, nó được chồng bảnh. Đừng nói lúc đó Thúy Vân còn nhỏ, chẳng ai thèm mua, bởi dù gì nó cũng đã “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”…
Mà thôi, ba mớ thơ thẩn để dành các nhà “Kiều học” luận bàn, mình trở lại đề tài tán dóc đầu năm:
A. NGỰA TRONG TRUYỆN TÀU
Ngựa trong truyện Tàu hầu hết đều là ngựa chiến. Ta nói, ngựa cũng như người, phải là thứ ngựa chinh nam tảo bắc nắc trung ương mới được bằng khen kèm tử tuất; còn ba mớ ngựa thồ hòa trong đám vô danh, quanh năm chỉ biết ra đường nộp thuế qua trạm đóng phí thì ôi thôi, kể làm đách!
1. Ô CHUY CỦA HẠNG TỊCH:
Đứng đầu đám ngựa Tàu đó, đáng kể nhứt là Ô Chuy của Hạng Tịch. “Ô” tất nhiên là đen. Ngựa ô bất quá cũng như chó mực, mèo mun, đều thứ đen thui. Nhưng “Chuy” lại là pha với màu xanh. Tại vì ngựa nầy lông đen láng mượt lại ánh lên màu xanh lam. Đã vậy bốn vó nó đều có đốm trắng, nên tên đầy đủ chính là “Đạp tuyết Ô chuy”.
Ô Chuy được Tư Mã Thiên nêu tên trong Sử ký, cho là từ khi có tuấn mã nầy giúp xông pha ngàn dặm, Hạng Võ mới trở nên chiến thần vô địch.
Một đời Hạng Tịch, ngoài vụ làm vương làm bá ra, có hai sự khoái phi thường. Một là cưới được nàng Ngu Cơ da trắng như ngà, tóc mượt như mây, đúng điệu “Ô long quyển ngọc trụ” (Rồng đen quấn quanh trụ ngọc). Hai là có con Ô Chuy bốn vó trắng bông như đạp tuyết. Nói chung cả hai, thứ nào cỡi lên một bận cũng sướng cả đời. Bởi vậy sau nầy Tịch hết thời tự đâm cổ họng cũng đà thỏa kiếp.
2. ĐÍCH LÔ CỦA LƯU BỊ
Tới tuồng Tam quốc, được nhắc nhiều nhứt là Đích Lô của Lưu Bị. “Đích Lô” là tiếng để chỉ con ngựa ô có đốm trắng giữa trán. “Tướng mã kinh” nói đó là điềm báo tang. Đã vậy, đuôi mắt con quái nầy lại có nếp nhăn như hai hàng lệ chảy, là tướng “lụy tào”. Ai nấy đều ớn, cho là ngựa phản chủ. Riêng Bị tự cho mình chơn mạng bí thơ, há dễ bị con ngựa hại chết nên cứ cỡi nhong nhong.
Kịp khi bị Khoái Việt với Thái Mạo bày tiệc đãi, mưu toan bắt sống đứa lộng ngôn mạo nhận hoàng thân. Bị giả cớ đau bụng đi cầu, lén ra tháo dây buộc ngựa, thót lên yên nắm bờm thúc ngựa phóng thẳng. Dè đâu con mắc dịch lại bon ra Đàn Khê là chỗ sình lún tới háng. Bị chỉ còn biết ngửa mặt kêu trời, chửi con đĩ ngựa hại mình mất mạng. Thì Đích Lô hý vang, đứng tại chỗ khỏi cần lấy trớn, dậm vó một phát phóng ngoài ba trượng (cỡ chục thước), qua tuốt bên kia suối.
Cũng con Đích Lô nầy, sau đó Bị tặng cho Bàng Thống, thì Thống bị quân mai phục chết trong loạn tiễn, biến Phượng Sồ tiên sinh thành ra con nhím.
Qua đời Tây Tấn, có Tả tướng quân Dữu Lượng. Tay nầy có tiếng khẳng khái là vì khi con trai va chết, bên sui gia là Thượng thư lịnh Gia Cát Khôi đưa thơ tới, xin cho con gái mình được về nhà với tía má. Lượng hồi âm mới thiệt chí tình: “Lịnh ái còn trẻ, đáng lẽ nên cho về tái giá. Có điều mỗi khi nhớ tới đứa con trai đã khuất, tôi lại bùi ngùi tưởng nó chỉ mới qua đời hôm qua”. Sử nhà Tấn chỉ chép có vậy, không kể rõ hũ mắm đầu giàn đó sau nầy ai khui, nên hậu thế cũng khó phẩm bình.
GIAO THỪA
ba mươi
đêm náu mình trong tóc
sao khuya đốm bạc mái đầu
côn trùng như tiếng kinh đêm
đồng xu thời gian quay tít
ta một mình chếnh choáng giữa đêm sâu
ba mươi
những âm ba vọng về
trải dài như dâu bể
tiếng à ơi giấc ngủ trưa hè quê ngoại
tiếng lục lạc con ngựa già
xe thổ mộ lầm lủi triền đê
KHÚC THÁNG CHẠP
NHỚ MỘT NGƯỜI PHỐ CŨ
thế nào ta cũng gặp lại nhauđã mấy mươi năm đá cũng thay màu
rêu phong đã phủ đường muôn nẻo
vẫn dấu đường mòn quanh quẩn hồn sâu
thế nào ta cũng gặp lại nhau
mưa có rơi trong tháng chạp bồi hồi
phố có ngậm ngùi tình xưa dậy
ta phố người nhớ phố cũ chưa nguôi
thế nào ta cũng gặp lại nhau
nhân ảnh chìm sâu còn dấu năm nào
hay đã tàn dần theo năm tháng
có chắc gì ta sẽ nhận ra nhau
TRONG TIỆM NƯỚC NGƯỜI HOA
LƯƠNG MINH
Mỗi lần anh tôi lên Sài Gòn đều rủ tôi đi ăn sáng tại tiệm Tân Sinh Hoạt. Có món gì ngon ở đó? Anh chỉ thích ngồi nhớ lại cái không khí cổ xưa nơi mà thuở xưa sáng nào tụi học trò chúng tôi cũng ngồi uống cà phê và nghe phổ ky truyền nhau ơi ới tiếng gọi bàn bằng thứ tiếng Hoa nói lóng rất thú vị mà người Hoa chính gốc nếu không quen cũng không hiểu được
Thế giới tiếng lóng
“Hai
hoành thánh mì thoàn dách, lượng co sủi cảo tún lục”.
Tiếng rao của anh phổ ky gọi cho anh đầu bếp. Từ đàng
xa, người đầu bếp lặp lại tiếng kêu như rao hồi đáp
là đã nghe tiếng đặt hàng.
Thoàn dách là bàn số 1
ở giữa, tún lục là bàn số 6 phía bên đông. Còn sủi
cảo là bánh xếp nước (hơi giống hoành thánh có hình
dẹp). Xưa kia trời vừa hừng sáng, hầu hết các tiệm
nước người Hoa, mở tất cả đèn sáng choang, quạt máy
5 – 7 cái quay vù vù, năm ba anh phổ ky hỏi khách dùng
chi, lập tức truyền khẩu lệnh gây náo nhiệt cả tiệm.
Họ quy định bên đông và bên tây của tiệm chứ không gọi bên trái và bên phải vì trái phải dễ nhầm do người đứng từ ngoài nhìn vào hay bên trong nhìn ra. Còn đông tây thì được định vị theo hướng mặt trời mọc và lặn. Cứ bên đông thì gọi là tún, bên tây thì gọi là sấy. Chính giữa gọi là thoàn. Tiệm nước thường có ba dãy bàn: đông (tún), tây (sấy) và giữa (thoàn), các số thứ tự thì dùng tiếng Quảng Đông dách, dì, xám, xây, ựng, lục mà kêu tới.
Hủ tiếu tô lớn thì gọi tố phảnh, tô nhỏ ít bánh thì gọi tái phảnh, tức nửa tô. Những từ ngữ dùng trong tiệm nước có cái thông dụng, nhiều người Việt trước đây đi tiệm nhiều cũng biết và nó bị Việt hoá. Thí dụ như dầu chao quảy, xíu mại, hoành thánh…
Ly
cà phê đen nhỏ gọi là xây chừng, cà phê đen lớn gọi
là tài chừng. Ngày nay uống cà phê không còn dùng ly lớn
nên từ tài chừng ít được dùng. Ly nhỏ ở dưới quê
dùng uống rượu được gọi là ly xây chừng, có viền
chính giữa để hai người uống dễ “cắt đôi”.
Cà
phê sữa thì gọi là xây nại, còn sữa nước sôi pha ít
cà phê thì gọi là xây bạc sỉu, có chỗ gọi là bạc
tẩy sỉu phé, tức sữa nước sôi cho một chút cà phê
vào. Đúng ra từ chính thống của cà phê sữa là ca phé
nại nhưng tại tiệm nước thì biến tấu thành như thế.
ĐÃNG TÌNH
cánh nhạn đưa tin cũng rã rời
tình xuân đã cạn
mộng đời như nắng mùa đông
những con đường xưa vặn vẹo
uốn mình theo cuộc bể dâu
những hàng cây đột tử
ve sầu mất chốn dung thân



