ĐẶNG TIẾN
Bộ môn Thơ đang lùi bước trong xã hội hiện đại. Đời sống đô thị nhanh bước theo nhịp tiến hóa của công nghiệp, đẩy lùi biên độ của thơ : kỹ thuật hiện đại cung cấp cho quần chúng - nhất là thanh niên - những phương tiện giải trí và truyền thông hấp dẫn và nhanh chóng hơn những bài bản vần vè trước đây – dù sao cũng gắn liền với nếp sống nông thôn.
Nhưng chất thơ lại là một phẩm chất khác của đời sống, không chỉ nhắm giải trí, nó tiềm ẩn trong tâm linh ; nó nằm dưới, nằm ngoài vần điệu. Và cần yếu cho con người mọi sắc tộc và thời đại.
Chất thay thế, hay bù đắp cho sự thất thoát của thi ca là ca khúc. Trong nghệ thuật âm nhạc, theo bén gót kỹ thuật hiện đại, ca khúc chuyển mình theo những dạng thức khác nhau.
Âu cũng là điều hợp lý. Thoạt kỳ thủy nước nào cũng vậy, thi ca bắt đầu từ hát xướng, trong tín ngưỡng, tôn giáo, giữa cung đình hay nơi công trường lao động.
Bản lề giữa hiện tượng “thơ nhạc giao duyên » ấy là những bài thơ được phổ nhạc, trở thành nhạc phẩm có giá trị tự tại. Việc phổ nhạc vào thơ làm giàu cho thơ, cho nhạc và tâm hồn người nghe. Và tại Việt Nam, có lẽ người có công đầu là Phạm Duy. Từ Cô hái mơ, thơ Nguyễn Bính, 1942, đến Bên kia sông Đuống, thơ Hoàng Cầm 2010 , anh đã phổ nhạc trên dưới 300 bài thơ.
Làm việc miệt mài, hiện nay Phạm Duy ở tuổi 90, đang hăng say sáng tác và hoàn tất một đĩa CD phổ nhạc thơ Bích Khê.
Trong quá trình 70 năm phổ nhạc, từ những bài thơ kinh điển – mà chưa chắc đã nhiều người biết hay còn nhớ – từ nhiều bài Thơ Hàn Mạc Tử, nối kết thành trường ca, đến Màu thời gian, 1940, của Đoàn Phú Tứ : …Ngàn trùng e lệ phụng quân ương… (Phạm Duy 1985) đến tiếng khóc não nùng trong Tưởng như còn người yêu, 1971 của Lê thị Ý : Ngày mai đi nhận xác chồng… ; những bài thơ được chọn phổ nhạc trong những điều kiện lịch sử và tâm lý khác nhau, có khi vì những động cơ riêng, do đó đến và ở lại với những mảng quần chúng khác nhau, khoanh vùng trong những thời điểm, địa phương, thế hệ khác nhau. Nói về nhạc Phạm Duy chung chung, đã là việc khó. Nói về nhạc phổ thơ của Phạm Duy còn khó hơn vì phải vượt qua ba cửa ải : quan niệm về thơ, sở thích về nhạc và ý kiến về… Phạm Duy.
Lấy ví dụ mới đây, bài Bên kia sông Đuống được Phạm Duy phổ nhạc khi tác giả Hoàng Cầm tuổi cao và trọng bệnh ; Phạm Duy sáng tác mong bạn mình được nghe trước khi qua đời, đầu năm 2010. Nhưng không kịp. Như vậy, về mặt tâm cảm, nhạc phẩm có giá trị cao, thậm chí thiêng liêng. Phạm Duy tận dụng nhạc thuật và tâm huyết để tôn vinh tác phẩm của bạn, do đó theo sát câu chữ của văn bản – và những điều kiện lịch sử đã tạo ra văn bản. Nhưng người nghe không phải ai ai cũng nghe ra ! Và người nhạc sĩ già sau 70 năm dày gió dạn sương, không khỏi hoang mang
Để giải thích và giải tỏa hiện tượng này, Eric Henry, một người Mỹ sành âm nhạc, trong một bài báo ngày 5/8/2010, trên mạng, sau khi đánh giá cao tác phẩm dài 10 phút, đã viết : một ca khúc phổ biến (hay đại chúng, popular song) bao giờ cũng có phần giới thiệu toàn bộ các giai điệu và nhạc khí (interlude), thêm phầm điệp khúc, hát lại giai điệu chính. Bên kia sông Đuống là ngoại lệ



