miền xưa
Hà Thủy blog
PHAM DUY: Thơ Phổ Nhạc
Nhưng chất thơ lại là một phẩm chất khác của đời sống, không chỉ nhắm giải trí, nó tiềm ẩn trong tâm linh ; nó nằm dưới, nằm ngoài vần điệu. Và cần yếu cho con người mọi sắc tộc và thời đại.
Chất thay thế, hay bù đắp cho sự thất thoát của thi ca là ca khúc. Trong nghệ thuật âm nhạc, theo bén gót kỹ thuật hiện đại, ca khúc chuyển mình theo những dạng thức khác nhau.
Âu cũng là điều hợp lý. Thoạt kỳ thủy nước nào cũng vậy, thi ca bắt đầu từ hát xướng, trong tín ngưỡng, tôn giáo, giữa cung đình hay nơi công trường lao động.
Bản lề giữa hiện tượng “thơ nhạc giao duyên » ấy là những bài thơ được phổ nhạc, trở thành nhạc phẩm có giá trị tự tại. Việc phổ nhạc vào thơ làm giàu cho thơ, cho nhạc và tâm hồn người nghe. Và tại Việt Nam, có lẽ người có công đầu là Phạm Duy. Từ Cô hái mơ, thơ Nguyễn Bính, 1942, đến Bên kia sông Đuống, thơ Hoàng Cầm 2010 , anh đã phổ nhạc trên dưới 300 bài thơ.
Làm việc miệt mài, hiện nay Phạm Duy ở tuổi 90, đang hăng say sáng tác và hoàn tất một đĩa CD phổ nhạc thơ Bích Khê.
Trong quá trình 70 năm phổ nhạc, từ những bài thơ kinh điển – mà chưa chắc đã nhiều người biết hay còn nhớ – từ nhiều bài Thơ Hàn Mạc Tử, nối kết thành trường ca, đến Màu thời gian, 1940, của Đoàn Phú Tứ : …Ngàn trùng e lệ phụng quân ương… (Phạm Duy 1985) đến tiếng khóc não nùng trong Tưởng như còn người yêu, 1971 của Lê thị Ý : Ngày mai đi nhận xác chồng… ; những bài thơ được chọn phổ nhạc trong những điều kiện lịch sử và tâm lý khác nhau, có khi vì những động cơ riêng, do đó đến và ở lại với những mảng quần chúng khác nhau, khoanh vùng trong những thời điểm, địa phương, thế hệ khác nhau. Nói về nhạc Phạm Duy chung chung, đã là việc khó. Nói về nhạc phổ thơ của Phạm Duy còn khó hơn vì phải vượt qua ba cửa ải : quan niệm về thơ, sở thích về nhạc và ý kiến về… Phạm Duy.
Lấy ví dụ mới đây, bài Bên kia sông Đuống được Phạm Duy phổ nhạc khi tác giả Hoàng Cầm tuổi cao và trọng bệnh ; Phạm Duy sáng tác mong bạn mình được nghe trước khi qua đời, đầu năm 2010. Nhưng không kịp. Như vậy, về mặt tâm cảm, nhạc phẩm có giá trị cao, thậm chí thiêng liêng. Phạm Duy tận dụng nhạc thuật và tâm huyết để tôn vinh tác phẩm của bạn, do đó theo sát câu chữ của văn bản – và những điều kiện lịch sử đã tạo ra văn bản. Nhưng người nghe không phải ai ai cũng nghe ra ! Và người nhạc sĩ già sau 70 năm dày gió dạn sương, không khỏi hoang mang
Để giải thích và giải tỏa hiện tượng này, Eric Henry, một người Mỹ sành âm nhạc, trong một bài báo ngày 5/8/2010, trên mạng, sau khi đánh giá cao tác phẩm dài 10 phút, đã viết : một ca khúc phổ biến (hay đại chúng, popular song) bao giờ cũng có phần giới thiệu toàn bộ các giai điệu và nhạc khí (interlude), thêm phầm điệp khúc, hát lại giai điệu chính. Bên kia sông Đuống là ngoại lệ
VÔI ĐÁ TRÊN THÀNH
Thành phố có gốc là thuộc địa Tây Ban Nha, buổi chiều Đông lái xe ngang qua khu downtown với những ngôi nhà kiến trúc Âu Châu cũ có nhiều nét gần gũi với Huế, cũng màu sơn vàng úa, những khung cửa sổ gỗ xanh, nâu và những con đường cũng nho nhỏ buồn buồn. Khung cảnh như một chứng tích vàng son của ai đó không dưng lại khiến nhớ về thành nội Huế của những tháng ngày xưa cũ với nhiều kỷ niệm, nhớ đến nao người.Thành nội đối với tôi vẫn như trái tim của Huế, bí ẩn và gây nhiều cảm xúc từ thuở thiếu niên cho đến khi trưởng thành. Tôi ở ngoại thành gần phố chợ trung tâm, tuổi mới lớn, hồn nhiên, yêu đời phơi phới nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần vào Thành nội, vừa qua cửa thành là thấy tâm hồn đã khác, lòng chợt dịu đi và man mác một nỗi quan hoài không có căn cứ, có lẽ cái cảnh vật gợi nhớ một thời đã qua, tuy chưa lâu lắm đã thành lịch sử, chỉ còn lại di tích là những con đường nhỏ nhắn ngang dọc, những ngôi nhà cổ kính rêu phong trong những khu vườn cây cối um tùm đầy những miếu thờ nhỏ, thần linh như hiện diện khắp nơi, huyền bí và rờn rợn. Đi giữa lòng Thành nội nhất là vào buổi xế chiều, dọc theo những con đường bên tường thành cũ rêu phong mới cảm nhận được thế nào là cái đẹp của tịch lặng, của mang mang tiếc nuối, của lòng chùng xuống không rõ vì đâu cho dù ai là người sôi nổi, lừng lẫy giữa đời thường, dường như cái không khí u uất của tiền nhân đã nén lại đậm đặc trong cái không gian này đến nổi cả ánh đèn đường cũng hiu hắt, âm u hơn nơi khác; dưới bóng hoàng hôn, Đại Nội hoang phế vẫn sừng sửng uy nghi, vẫn như còn ẩn chứa bên trong bao điều bí mật cung đình ngày xưa.
HẠ NÀO CÓ NHỚ
những tình khói sương ngày nọ
theo giòng đời đã chìm sâu
Hạ nào về theo phượng đỏ
râm ran như tiếng ve sầu
ngày em dáng mềm như lụa
mắt môi rạng ánh nắng hè
vườn khuya hoa nào hương tỏa
tình như lịm dưới trăng ngà
theo giòng đời đã chìm sâu
Hạ nào về theo phượng đỏ
râm ran như tiếng ve sầu
ngày em dáng mềm như lụa
mắt môi rạng ánh nắng hè
vườn khuya hoa nào hương tỏa
tình như lịm dưới trăng ngà
TẢN MẠN VỚI HUẾ
Trần Đức Anh Sơn (FB)
1. Ngày 1/1/2018 này là tròn 10 năm tôi rời Huế, vượt Hải Vân vào xứ Quảng mưu sinh. Trước đó ít lâu, có một người bạn ở Sài Gòn gọi điện hỏi tôi: “Trường mình vừa mở một ngành học mới, liên quan đến chuyên môn của bạn. Bạn có muốn vào Sài Gòn đầu quân cho trường mình không?”. Tôi đã trả lời: “Tôi sinh ra lớn lên ở Huế, nên cũng sẽ chết vùi trong Huế”. Vậy mà…
Cứ tưởng rời Huế rồi thì thân tâm thanh thản, sẽ không còn vương vấn với cái xứ “xa thì nhớ, ở thì bưa” ấy nữa. Nhưng chuyện đời đâu có đơn giản như vậy. Thể xác rời đi nhưng tâm tình ở lại, thân đã trong Quảng nhưng trí vẫn còn ngoài Huế. Vậy nên, nhiều khi tôi vẫn xum lo mấy chuyện bao đồng diễn ra ở Huế, dù không ai khiến.
1. Ngày 1/1/2018 này là tròn 10 năm tôi rời Huế, vượt Hải Vân vào xứ Quảng mưu sinh. Trước đó ít lâu, có một người bạn ở Sài Gòn gọi điện hỏi tôi: “Trường mình vừa mở một ngành học mới, liên quan đến chuyên môn của bạn. Bạn có muốn vào Sài Gòn đầu quân cho trường mình không?”. Tôi đã trả lời: “Tôi sinh ra lớn lên ở Huế, nên cũng sẽ chết vùi trong Huế”. Vậy mà…
Cứ tưởng rời Huế rồi thì thân tâm thanh thản, sẽ không còn vương vấn với cái xứ “xa thì nhớ, ở thì bưa” ấy nữa. Nhưng chuyện đời đâu có đơn giản như vậy. Thể xác rời đi nhưng tâm tình ở lại, thân đã trong Quảng nhưng trí vẫn còn ngoài Huế. Vậy nên, nhiều khi tôi vẫn xum lo mấy chuyện bao đồng diễn ra ở Huế, dù không ai khiến.
KHÚC THÁNG TƯ
có khi ta bỗng buồn như núi
trong bóng hoàng hôn núi cũng mờ
một bóng hình xưa còn lưng ngọn
chập chờn theo mãi những cơn mơ
có khi ta lại buồn như biển
biển có bao dung sóng chẳng màng
cứ mãi miên man bờ bãi nọ
nên dấu tình theo sóng ly tan
trong bóng hoàng hôn núi cũng mờ
một bóng hình xưa còn lưng ngọn
chập chờn theo mãi những cơn mơ
có khi ta lại buồn như biển
biển có bao dung sóng chẳng màng
cứ mãi miên man bờ bãi nọ
nên dấu tình theo sóng ly tan
HUẾ CỦA TUI
Đọc trên mạng một bài viết về Huế của một
người có lẽ cùng thế hệ, có trí nhớ rất tốt về tháng ngày xưa. Rất thú vị .
PHƯỚC CÀ TỬNG
Tui là thằng bảo hoàng, bảo hoàng hơn cả Vua! Cái chi nằm trong bộ
óc tui rồi thì tui không muốn đổi, và cũng không thể đổi được. Rứa mới kỳ! Có
rứa cho nên từ ngày xa Huế đi kiếm cơm ở tận xứ sở của Vua Chế Mân hồi xưa, tui
cứ bo bo giữ trong đầu hình ảnh Huế của tui - Huế của những tháng năm đầu đời
cho đến khi biết yêu, rồi cưới vợ và … bỏ xứ ra đi.
Đi kiếm cơm thời nớ quá cực. Hai cấy dôn lương tháng sáu chục đồng
giấy lộn nhân hai cọng thêm hai đồng sản khoa (ai mà biết hai đồng nớ để mần
chi!) của mụ vợ tui nữa vị chi là một trăm hai mươi hai đồng. Mà nghĩ thử coai,
mỗi buổi sáng nếu tui vô cantine kêu một ly cà phe (không có dấu mũ, không phải
vì viết sai chính tả mà vì cà hoài không phê nên không thể goại là cà phê
được) với năm điếu thuốc Lao Động hay Hoa Mai, Hải Đảo chi đó thì cũng tốn hết
hai đồng, đi toong một ngày “lao động” của một tên thợ mổ! Bởi rứa đành nhịn để
tiền mua bột “loạn xạ cốc” nuôi con.
Cực thì cực nhưng hàng năm cũng ráng bồng bế nhau về Huế, trước thăm cha mẹ vợ, sau để thỏa mãn nỗi nhớ Huế khôn nguôi. Ráng cằn táy mua vé tàu ngồi lê ngồi lết mấy ngày trời, chờ tới Lăng Cô là bụng dạ bắt đầu sôi lên, qua Thừa Lưu, Cầu Hai, Đá Bạc mắt nhìn chăm chăm ra cửa sổ. Tới Truồi, Nong ngồi đứng không yên; qua Phú Bài, An Cựu nhấp nha, nhấp nhổm mong cho tới Ga Huế. Rứa mà khi xuống tàu, ra ga đón cyclo về nhà tự nhiên lại buồn thúi ruột! Ga Huế không giống như ngày xưa, khi tui còn chạy lên chạy xuống nhà thằng bạn có bà mẹ mở quán cơm ở đó. Đường Lê Lợi răng buồn chi lạ, có mô như những ngày áo trắng rợp đường xanh. Xe qua cầu Trường Tiền, thấy cái bảng tên Cầu Tràng Tiền tự nhiên nổi giận! Trường, không phải Tràng! Trường, không phải Tràng nghe, nghe chưa! Để rồi lại càng xông máu khi thấy hai bên cầu có hai cái cùm kẹp chặt mấy vài cầu. Trời hỡi Trời ngó xuống mà coai, cầu mà còn bị cùm huống chi là người! Chưa kể là sau ni còn thêm một mớ đèn xanh, đỏ, tím, vàng thấy phát khiếp! Về nhà, ngày lại ngày, tui xách xe đạp chạy quanh. Tìm chút kỷ niệm xưa cho bõ những ngày thương nhớ.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

