Tác giả FB VinhHuy Le
* * *
“Khớp con ngựa ngựa ô
Ngựa ô anh thắng, anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen, búp sen lá dậm, dây cương dầm thắm, cán roi anh bịt đồng thòa
Là đưa ý a đưa nàng, đưa nàng, anh đưa nàng về dinh…”
Đó là ngựa Việt, trong điệu lý, là thứ tôi hổng rành, nên chỉ xin tán dóc ngựa trong truyện Tàu cho khỏi đụng chạm, vậy đi!
Tam tự kinh có câu: “Mã ngưu dương, Kê khuyển thỉ; Thử lục súc, Nhơn sở tự” (Ngựa trâu dê, Gà chó heo, Sáu súc vật, Người ta nuôi). Ngẫm đó thì thấy trong lục súc, dê heo gà được nuôi chỉ để mần thịt, còn trâu với chó vừa lấy thịt vừa để kéo xe, chỉ loài ngựa là riêng để cỡi, ít ai ăn thịt. Nên ngựa được xếp đứng đầu lục súc là vậy.
Xưa nay dân Tàu vẫn cho chó ngựa là bầu bạn của loài người. Chó để giữ nhà, ngựa dùng giữ nước, nên Hán thư có thành ngữ “Khuyển mã chi lao”, tỏ ý trung thần phụng thờ minh chúa. Tam quốc diễn nghĩa cũng có chữ “Khuyển mã đồ báo”: thề làm chó ngựa để đền đáp ơn tình với chủ.
Ở đây cần phân biệt “làm chó ngựa” là nói tấc dạ trung trinh, có khác với “làm trâu ngựa” lại hàm oán khí. Hãy nghe cô Kiều dặn cô Vân thay mình lấy Kim Trọng:
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai
Vụ “đền nghì trúc mai” chỉ là nói dóc. Vì “trúc mai” là rút gọn “Thanh mai trúc mã”, ý nói đôi bạn quen nhau từ nhỏ; còn Thúy Kiều mãi sau khi trổ mã mới được anh Trọng tới ve. Nhưng tới bốn chữ “Làm thân trâu ngựa” mới thiệt tả tâm trạng đành hanh của cô Kiều: Cũng là chị em một dạ sanh ra nhưng mình phải bán thân, nó được chồng bảnh. Đừng nói lúc đó Thúy Vân còn nhỏ, chẳng ai thèm mua, bởi dù gì nó cũng đã “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”…
Mà thôi, ba mớ thơ thẩn để dành các nhà “Kiều học” luận bàn, mình trở lại đề tài tán dóc đầu năm:
A. NGỰA TRONG TRUYỆN TÀU
Ngựa trong truyện Tàu hầu hết đều là ngựa chiến. Ta nói, ngựa cũng như người, phải là thứ ngựa chinh nam tảo bắc nắc trung ương mới được bằng khen kèm tử tuất; còn ba mớ ngựa thồ hòa trong đám vô danh, quanh năm chỉ biết ra đường nộp thuế qua trạm đóng phí thì ôi thôi, kể làm đách!
1. Ô CHUY CỦA HẠNG TỊCH:
Đứng đầu đám ngựa Tàu đó, đáng kể nhứt là Ô Chuy của Hạng Tịch. “Ô” tất nhiên là đen. Ngựa ô bất quá cũng như chó mực, mèo mun, đều thứ đen thui. Nhưng “Chuy” lại là pha với màu xanh. Tại vì ngựa nầy lông đen láng mượt lại ánh lên màu xanh lam. Đã vậy bốn vó nó đều có đốm trắng, nên tên đầy đủ chính là “Đạp tuyết Ô chuy”.
Ô Chuy được Tư Mã Thiên nêu tên trong Sử ký, cho là từ khi có tuấn mã nầy giúp xông pha ngàn dặm, Hạng Võ mới trở nên chiến thần vô địch.
Một đời Hạng Tịch, ngoài vụ làm vương làm bá ra, có hai sự khoái phi thường. Một là cưới được nàng Ngu Cơ da trắng như ngà, tóc mượt như mây, đúng điệu “Ô long quyển ngọc trụ” (Rồng đen quấn quanh trụ ngọc). Hai là có con Ô Chuy bốn vó trắng bông như đạp tuyết. Nói chung cả hai, thứ nào cỡi lên một bận cũng sướng cả đời. Bởi vậy sau nầy Tịch hết thời tự đâm cổ họng cũng đà thỏa kiếp.
2. ĐÍCH LÔ CỦA LƯU BỊ
Tới tuồng Tam quốc, được nhắc nhiều nhứt là Đích Lô của Lưu Bị. “Đích Lô” là tiếng để chỉ con ngựa ô có đốm trắng giữa trán. “Tướng mã kinh” nói đó là điềm báo tang. Đã vậy, đuôi mắt con quái nầy lại có nếp nhăn như hai hàng lệ chảy, là tướng “lụy tào”. Ai nấy đều ớn, cho là ngựa phản chủ. Riêng Bị tự cho mình chơn mạng bí thơ, há dễ bị con ngựa hại chết nên cứ cỡi nhong nhong.
Kịp khi bị Khoái Việt với Thái Mạo bày tiệc đãi, mưu toan bắt sống đứa lộng ngôn mạo nhận hoàng thân. Bị giả cớ đau bụng đi cầu, lén ra tháo dây buộc ngựa, thót lên yên nắm bờm thúc ngựa phóng thẳng. Dè đâu con mắc dịch lại bon ra Đàn Khê là chỗ sình lún tới háng. Bị chỉ còn biết ngửa mặt kêu trời, chửi con đĩ ngựa hại mình mất mạng. Thì Đích Lô hý vang, đứng tại chỗ khỏi cần lấy trớn, dậm vó một phát phóng ngoài ba trượng (cỡ chục thước), qua tuốt bên kia suối.
Cũng con Đích Lô nầy, sau đó Bị tặng cho Bàng Thống, thì Thống bị quân mai phục chết trong loạn tiễn, biến Phượng Sồ tiên sinh thành ra con nhím.
Qua đời Tây Tấn, có Tả tướng quân Dữu Lượng. Tay nầy có tiếng khẳng khái là vì khi con trai va chết, bên sui gia là Thượng thư lịnh Gia Cát Khôi đưa thơ tới, xin cho con gái mình được về nhà với tía má. Lượng hồi âm mới thiệt chí tình: “Lịnh ái còn trẻ, đáng lẽ nên cho về tái giá. Có điều mỗi khi nhớ tới đứa con trai đã khuất, tôi lại bùi ngùi tưởng nó chỉ mới qua đời hôm qua”. Sử nhà Tấn chỉ chép có vậy, không kể rõ hũ mắm đầu giàn đó sau nầy ai khui, nên hậu thế cũng khó phẩm bình.
Đáng nói là Dữu Lượng cũng có con ngựa thuộc nòi Đích Lô. Bạn bè khuyên bán đi, nhưng Lượng làm bộ từ bi bác ái: “Dẫu biết đó là ngựa hại chủ, nhưng nếu bán đi sẽ thành trút họa cho người khác. Bậc nhơn nghĩa ai làm vậy cho đành”.
Sau đó nhờ có Đích Lô, Tả tướng quân đại bại ở Chu Thành, ôm hận thành bệnh mà thác, tuổi mới năm hai.
3. XÍCH THỐ CỦA QUAN VÕ
Đúng ra ngựa nầy tên Xích Đồ 赤菟. Xích là đỏ, Đồ là tiếng xưa chỉ loài cọp. Kêu Xích Đồ là ý nói ngựa nầy thứ dữ, mạnh như cọp. Sách “Tướng mã kinh” lại khen tướng ngựa có “đầu thỏ”, tức là từ trán tới mũi ngựa gồ lên từa tựa đầu thỏ, đó là ngựa quý, giá đáng ngàn vàng. Nên từ khi chữ Đồ mai một, người ta kêu Xích Đồ thành Xích Thố: Thố đây không phải phóng nhanh như thỏ, mà là có đầu như đầu thỏ.
Xích Thố vốn của Đổng Trác. Lý Nho dùng nó dụ bạo tướng Lữ Bố về làm con nuôi Đổng Trác. Vì vậy có câu “Nhơn trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố” để tả thứ siêu quần thượng hạng. Chừng Bố chết trận, Xích Thố về tay Tào Tháo. Tháo tặng lại cho Quan Võ.
Bộ dạng Quan Võ vạm vỡ khác thường, được mô tả là võ tướng nặng ký nhứt thời đó theo đúng nghĩa đen luôn. Bự con quá cỡ, nên ngựa nào về tay Võ chưa đầy tháng cũng sùi bọt mép nằm thẳng cẳng. Đợi khi có Xích Thố, Võ mới thỏa sức tung hoành trận mạc, quá ngũ quan trảm lục tướng, đứng đầu Ngũ hổ Tây Thục.
Quan Võ chết thì Xích Thố chết theo. Đời sau thường khen Xích Thố không chết theo Lữ Bố mà chết theo Quan Võ. Nên Xích Thố được thành thần vì nêu gương tuẫn nghĩa. Nhưng ít ai để ý: tại Xích Thố ba chớp ba nháng bị địch giăng dây té ngửa, khiến chủ bị bắt.
4. TUYỆT ẢNH CỦA TÀO THÁO
Đây mới là con ngựa đứng đầu Tam quốc. Tuyệt Ảnh sắc lông đen tuyền, thuộc giống Hãn huyết của Đại Uyên (nay thuộc Uzbekistan) ngoài Tây Vực. Giống ngựa nầy tươm mồ hôi đỏ như máu nên còn kêu “Hãn huyết mã”. Con Tuyệt Ảnh có tên làm vậy vì tốc độ phi thường, lướt qua không kịp thấy bóng. Tào Tháo ra trận tay quơ Ỷ Thiên kiếm, chơn xốc hông Tuyệt Ảnh, tha hồ gào mưa hú gió, ra vô trận mạc lấy đầu giặc như trở bàn tay.
“Tam quốc chí” chép: Trong trận Uyển Thành, Tháo bị Trương Tú mai phục. Tuyệt Ảnh trúng liền hai mũi tên xuyên hông vẫn chồm lên cõng chủ vượt khỏi vòng vây. Tới khi thấy con Tháo là Tào Ngang kịp đem viện binh tới cứu, con ngựa khôn mới chịu gục ngã vì kiệt sức. Ngang đưa ngựa mình cho ông tía cỡi. Nhờ vậy Tháo toàn mạng trở về, nhưng Ngang thì đăng xuất. Cái chết của Ngang làm Tháo ray rứt suốt quãng đời còn lại.
5. NGỌC SƯ TỬ CỦA TRIỆU VÂN
“Chiếu dạ Ngọc sư tử” vốn của Công Tôn Toản, lãnh chúa cát cứ U Châu (nay thuộc Hà Bắc). Theo “Hậu Hán thơ”, Toản tuyển chọn 3.000 kỵ binh thiện chiến, đều cho cỡi ngựa bạch, kêu là quân “Bạch mã Nghĩa tòng”. Toản cỡi Ngọc sư tử dẫn đầu đoàn quân nầy đánh đâu thắng đó, tới quân Hung Nô quen cỡi ngựa bắn cung từ nhỏ cũng phải né, chẳng dám đối đầu. Toản từ đó vang danh Bạch mã Tướng quân. Lúc nầy, Triệu Vân chỉ là viên cận vệ bên mình Công Tôn Toản.
Chừng Viên Thiệu nổi lên, thì Công Tôn Toản trở thành thế lực uy hiếp Thiệu. Đôi bên đánh nhau nhiều trận, cuối cùng 3.000 kỵ binh Bạch mã lần hồi rơi rụng hết. Toản đành thua trận ở Dịch Kinh, y giết hết vợ con dòng giống mình rồi nổi lửa tự phần.
Tới nước đó, Triệu Vân chỉ còn biết gạt nước mắt, dắt Ngọc sư tử về phò Lưu Bị (hồi trai trẻ, Công Tôn Toản với Lưu Bị học chung một thầy là Lư Thực. Tính theo vai vế, Bị là sư đệ Toản, kể như người thân duy nhứt của Toản còn sống sót trên đời).
Trải nhiều trận mạc, Triệu Vân ngày một trưởng thành. Từ đó nổi lên Thường thắng Tướng quân Triệu Tử Long. Vân được La Quán Trung tả vóc cao tám thước (cỡ 1m85), mày rậm mắt to, mặt rộng má bầu, da trắng môi son, oai phong lẫm liệt. Trận Trường Bản, Vân cỡi Chiếu dạ Ngọc sư tử, tay vung ngọn Ngân thương, lưng cõng ấu chúa, bẩy lần ra vô đột phá trùng vi khiến ai đọc tới cũng sảng khoái.
6. VÀI NGỰA TẦM XÀM
Tiểu thuyết đời sau bắt chước Tam quốc Diễn nghĩa, cho tụi tướng tá đều cỡi thiên lý mã, nhưng bút lực lại thua xa. Đây kể vài con:
- Tùy Đường diễn nghĩa (Thuyết Đường) tả Uất Trì Cung cỡi Bão nguyệt Ô chuy; tới truyện Thủy hử, có Hô Diên Chước cũng cỡi Đạp tuyết Ô chuy. Đó đều là mượn oai Ô Chuy của Hạng Tịch.
- Trong Thuyết Đường, Ngũ Vân Thiệu cỡi Chiếu dạ Ngọc sư tử; trong Thủy hử, cũng có Ngọc sư tử của Sử Văn Cung, sau về tay Tống Giang.
Rồi trong truyện Chinh đông, Tiết Nhơn Quý cỡi Trại Phong Câu lướt băng băng trên mặt nước như chiếc ca-nô. Tới truyện Chinh tây, Tiết Đinh San lại có ngựa Long Câu biết bay, giúp chủ kịp đằng vân tới thành Tỏa Dương cứu giá.
Sơ qua vậy thôi, như ai có hứng thì tìm đọc “Thú xem truyện Tàu” của Vương Hồng Sển. Để kể ba mớ tầm xàm, thì giọng văn ông Sển vẫn có duyên nhứt hạng.
B. BÁT TUẤN ĐỒ
Ai nấy hẳn đã nghe qua Bát Tuấn đồ, nhưng ít người biết còn có Lục tuấn, Thất tuấn.
* LỤC TUẤN:
Bên Tàu, ngoại trừ cái hòm lộng kiếng đựng thây ma Mao Trạch Đông bày ở phía đông Thiên An môn ra, còn một lăng mộ hùng vĩ của bậc đế vương khác. Đó là Chiêu lăng, nơi hợp táng Đường Thái tôn với Văn Đức hoàng hậu.
Năm 636, hoàng hậu không may qua đời, tuổi mới băm sáu. Lý Thế Dân cho xây lăng ở ngọn Cửu Tông để an táng nàng. Hơn một giáp sau, tới phiên Thế Dân thăng hà cũng chôn ở đó.
Thời xưa, mấy dãy núi nhỏ được kêu là Tông 嵕. Thành Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây có dãy núi chín ngọn nên có tên Cửu Tông san. Khu lăng mộ Thế Dân chiếm 200 cây số vuông, với hơn 180 ngôi mộ của đám hoàng thân nầy được tôn là “Thiên hạ danh lăng”.
Thế Dân một đời chinh chiến, cỡi qua đủ thứ ngựa. Từ hồi còn sống, Dân đã cho chạm phù điêu sáu con ngựa quý của mình. Chính là phù điêu “Lục tuấn” kỷ công mấy con chiến mã, gồm:
1- Táp Lộ Tử: Là ngựa Dân cỡi hồi còn là Hữu lãnh quân Đô đốc. Trong một trận đụng độ với Vương Thế Sung, con ngựa khôn đã chồm lên ưỡn ngực đỡ tên cho chủ.
2- Quyền Mao Qua: Ngựa nầy lông vàng mõm đen, cỡi hồi trấn áp phiến quân Lưu Hắc Thát, nó lãnh đủ chín mũi tên.
3- Thanh Chuy: Cỡi khi uýnh nhau với Đậu Kiến Đức, ăn năm mũi tên.
4- Đặc Lặc Phiếu: Lông vàng đốm trắng. Dân cỡi nó trong chiến công đệ nhứt ở Huyền Võ môn giết anh ruột, hiếp chị dâu, đoạt ngôi Thái tử. Xong rồi con Phiếu bị tẩm độc, mắc bệnh lạ mà chết.
5- Thập Phạt Xích: Lông đỏ tía.
6- Bạch Đề Ô: Ngựa ô vó trắng.
Hai ngựa sau cùng được Dân cỡi thường ngày tùy theo phong thủy ngũ hành, lúc đã lên ngôi vương.
Tấm phù điêu Lục tuấn nầy rộng hai thước, cao thước bẩy, dầy ba tấc, nặng hai tấn rưỡi. Năm 1914, hai con Táp Lộ Tử với Quyền Mao Qua bị đẽo, bán tuốt qua Mỹ, nay bày ở Bảo tàng Đại học Pennsylvania. Hai con Thanh Chuy với Đặc Lặc Phiếu thì mất tăm tích. Hiện chỉ còn Thập Phạt Xích với Bạch Đề Ô trưng trong Bảo tàng Tây An của Thiểm Tây.
* THẤT TUẤN:
Đường Thái tôn cho chạm Lục tuấn là bắt chước Tần Thủy hoàng: Doanh Chính sau khi gồm thâu lục quốc, nhứt thống giang san, đã cho tạc tượng bẩy con ngựa cưng là Truy Phong, Bôn Điện, Phi Cách, Niếp Ảnh, Bạch Thố, Đồng Tước, Thần Phù. Vó ngựa quân Tần phi tới đâu là biên cương mở rộng tới đó. Vì vậy, người ta cho rằng thành ngữ “Mã đáo thành công” từ Thất tuấn nầy mà ra.
* BÁT TUẤN:
Có ít nhứt ba Bát tuấn đồ. Là vì Minh Thành tổ với Càn Long cà chớn, cũng bày ra vẽ tranh dựng tượng tám con ngựa quý. Còn Bát tuấn chánh hiệu của Châu Mục vương lại chỉ là điển tích.
Mục vương nhà Tây Châu tên Cơ Mãn, sống khoảng thế kỷ thứ IX trước Công nguyên. Là vị vua dựng nền thạnh trị cho nhà Châu. Ông Tây phạt Khuyển Nhung, Nam bình Kinh Man, ra lịnh hội chư hầu ở Từ san, lại đặt ra Lữ hình là bộ luật hình sự đầu tiên của văn minh Trung Hoa. Sau khi vững ngôi đế, ông bãi binh, thả tám ngựa chiến về lại rừng núi Hoa sơn, để bố cáo thiên hạ thái bình.
Đời sau nhớ ơn, kêu ông là Mục thiên tử, lại theo tích đó vẽ tám ngựa chiến, đặt tên theo màu lông, là Xích Ký (lông đỏ), Đạo Ly (ngựa ô), Bạch Nghĩa (ngựa trắng), Du Luân (ngựa tía), Sơn Tử (ngựa xám), Du Luân (ngựa vàng), Huê Lưu (ngựa đỏ bờm đen) và Lục Nhĩ (ngựa vàng tai xanh).
Đại định thiên hạ rồi thì thả ngựa, cũng không thèm bắt nhốt ngụy quân; nên đây vừa tượng trưng khát vọng hòa bình, và mới thiệt là “Mã đáo thành công”.
Do nghĩa đó, người Tàu khắp nơi thường theo tranh Bát tuấn trong nhà đặng cầu gia đạo bình an - thạnh vượng.
Nhưng không phải cứ thích thì mua tranh treo đại, mà phải theo phép tắc phong thủy đàng hoàng. Những phép tắc nầy có thể bị cho dị đoan tầm ruồng, nhưng nếu không theo, lại thành ra không phải dân sành điệu biết chơi tranh Bát tuấn:
- Chỗ tốt nhứt để treo Bát tuấn là ở phòng khách, kỵ treo phòng ngủ. Nếu có thể treo ở hướng đông phòng khách lại càng tốt. Vì hướng đông thuộc Mộc, loài ngựa thuộc Hỏa, Mộc sanh Hỏa giúp vợ chồng hòa thuận, ăn nên làm ra.
- Trong Bát tuấn, cả tám ngựa đều sải theo một hướng. Lúc treo tranh, phải để đầu ngựa quay vô phía trong đặng vượng khí tụ về. Để ngựa quay ra cửa thì mỗi lần cửa mở, bao nhiêu vượng khí tích tụ đều tuôn theo hết.
Ngoài ra, còn vài kiêng cữ về năm sanh, như:
- Người thuộc mạng Hỏa không nên treo Bát tuấn, vì Bát tuấn cũng thuộc Hỏa. Lửa dồn tụ sẽ cháy phừng, khiến mình nếu không đau gan cũng sanh nóng tánh, dễ gây gổ với “nóc nhà”.
- Người tuổi Tý, Sửu, Mẹo cũng không nên treo Bát tuấn, vì địa chi xung đột, mưu sự thì nhiều nhưng thành sự bằng âm.
Về kích thước, tranh Bát tuấn tất nhiên phải xứng hợp với gian phòng, tránh treo tranh bự quá hoặc nhỏ quá, tạo cảm giác lạc lõng trong phòng khách.
C. THỰC TẾ PHŨ PHÀNG
1. NGỰA CHIẾN SỐNG DAI CỠ NHIÊU?
Sử ký biên là Ô Chuy cõng Hạng Tịch mười lăm năm, Tam quốc chí cũng chép Xích Thố chở Quan Võ hơn hai chục năm. Vậy thiệt hư ra sao?
Thưa rằng tuổi thọ trung bình của loài ngựa cỡ bốn chục năm. Nhưng đó là giống ngựa nhỏ, ngựa kiểng (Pony). Còn các thứ ngựa cao lớn, thọ mệnh chỉ ba mươi năm. Tới như ngựa chiến, dù được phụng dưỡng cỡ nào, cũng chỉ hiệu lực trong quân được năm năm là hết cỡ. Đó là chưa kể khi xui rủi bỏ mạng sa trường. Cứ đếm Lục tuấn của Lý Thế Dân đi: Có sáu con thì bốn đã sớm tử trận.
Mà nói thiệt tình, ngựa chiến của Tàu có tả cho mấy cũng không thể sánh với ngựa Tây. Vì từ thế kỷ X, khi móng sắt cho ngựa đã phát triển ở châu Âu tới nỗi thợ đóng móng ngựa thành danh giá, thì ở Trung Hoa phải hơn ba trăm năm sau, tới đời Minh, loài ngựa mới biết tới lạc thú được đóng móng sắt. Người Tàu có tục cho móng ngựa là bửu bối trấn trạch, có lẽ cũng do ảnh hưởng bởi châu Âu.
Nhưng ngược lại, phương Tây học được từ Trung Hoa một phát minh kinh người thuộc về giới tính, dành cho ngựa chiến…
2. NGỰA CHIẾN LÀ NGỰA ÔNG HAY NGỰA BÀ?
Còn nhớ có lần, đâu đó ở kinh thành, hồi đúc tượng thánh Gióng, người ta đã đúc luôn nguyên bộ “tam sên” cho ngựa Gióng.
Ngựa của Gióng thì cứ bay theo về trời hỏi Gióng. Còn ngựa chiến của Tàu toàn xài ngựa đực. Vì ngựa đực khỏe hơn, gan lỳ hơn.
Với lại, nghĩ dùm coi: Nếu Xích Thố thuộc giống cái, thì đang giữa ba quân, Quan tướng quân vai vác siêu đao, tay vuốt râu năm chòm, vừa mới bước ra thì con quỷ kia nó quay mông lại, rồi nó nhỏng đuôi lên chào mời thì còn ra thể thống gì! Mà hổng chừng tại vậy nên Quan nhị ca mới đỏ mặt bừng bừng đó nha, ha ha!
Có điều, tai hại ở chỗ ngựa là loài thú có tánh dâm nhứt hạng, hơn cả loài dê. Một khi sung lên, ngựa đực phá chuồng xông ra ngoài, chấp luôn trời cản. Hổng phải vô tình mà địa chi Ngọ được tượng trưng bằng con ngựa. Đó là thuần Dương. Nhìn kỹ đồng hồ đi, coi thử lúc giữa trưa cặp kim chụm lại chỗ nào thì biết! Thứ ngựa nứng đó mà ra trận, có khi nghe hơi cái là nó sẵn sàng đem luôn chủ tới dâng đầu cho giặc.
Bởi vậy ngựa chiến thường là ngựa thiến.
Cho tới khi Trung Hoa phát minh chiến xa thì tình hình ngựa đực có phần khởi sắc.
Chữ Xa 車 trong cờ tướng, Tàu phát âm là “jū” (như chữ Cư 居). “Jū” đây là tiếng hiệu lịnh thời xưa kêu ngựa dừng chơn (giục ngựa đi thì kêu “qiě” - 且 thả). “Chiến xa” đó là cỗ xe đóng bốn ngựa theo hàng đôi. Lúc nầy phải đóng hai ngựa cái đằng trước, hai ngựa đực đàng sau. Ngựa đực nghe hơi cái là phóng nà tới, dí riết theo, kéo xe chạy bon bon ngon lành, tung hoành bốn hướng. Nhưng nếu ngược lại, đóng cặp ngựa cái đằng sau thì chớ mong chiến xa nhúc nhích. Tới đây, Cửu thiên tuế Điền Bá Quang ngửa cổ kêu trời: Than ôi! Chỗ huyền bí của chiến tranh là vậy!
