FB Vinhhuy Le
Tết
là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của các nước chịu ảnh hưởng văn minh Trung
Hoa. Đó là ngày đầu năm Âm lịch, ngày này được gọi tên riêng trang trọng:
Nguyên Đán. Ngày Nguyên Đán này từng được dời đổi nhiều lượt trong lịch sử (của
Trung Hoa).
Nói
đến Tết và dời đổi Tết, tất phải nhắc đến lịch pháp. Về lịch pháp âm/ dương, đã
có nhiều luận bàn, ở đây không nhắc lại thêm rườm, chỉ bàn vụn đôi điều ít
người nói đến.
A-
DỊCH VÀ THIÊN VĂN
Nói
đến lịch pháp, tất phải nhắc đến Chu Dịch. Bộ cổ thư này là cơ sở của thiên
văn, trước khi thành nền tảng huyền học Trung Hoa.
Thuở
xưa, chưa có văn tự, người Tàu phỏng theo hai yếu tố mặt trời và mặt trăng để
tạo ra ký hiệu Âm Dương. Âm, biểu tượng mặt trăng, là một gạch ngang bị đứt nét
ở giữa; Dương, biểu tượng cho mặt trời, là một gạch liền. Hai gạch Âm Dương đó
còn gọi là phù hiệu của Lưỡng Nghi.
Mặt
trăng có khi đầy khi khuyết, mặt trời cũng khi gắt khi râm. Để biểu diễn sự
thay đổi đó, người ta chồng hai gạch Lưỡng Nghi lên nhau. Khi 1 gạch Âm chồng
lên 1 gạch Dương, người ta có tượng Thiếu Dương, đó là Dương khí khởi sinh, mùa
Xuân đã về. Khi cả hai gạch đều Dương, tức là viêm nhiệt: mùa Hạ đến rồi. Tương
tự, khi gạch Âm ở dưới được 1 gạch Dương đến chồng lên thì là Thiếu Âm: khí Âm
đã lấn, đất trời vào Thu. Khi cả hai gạch đều là Âm, thì là Thái Âm: hàn khí
tích tụ, mùa Đông đi ngủ phải nhớ đắp mền. Đến đây, người ta đã có thể biểu thị
bốn mùa, hình thành khái niệm Tứ Tượng (Hình 1).
Bốn
mùa Xuân Hạ Thu Đông thay đổi cho nhau, nhưng sự thay đổi đó không phải bất
chợt thình lình, mà phải có chuyển tiếp ở giữa. Để biểu diễn sự chuyển tiếp đó,
người ta lại chồng lên mỗi ký hiệu Tứ Tượng một gạch Âm/ Dương nữa, vậy là từ
bốn mùa thành tám tiết: Bát Quái ra đời (Hình 2).
Không
ai biết tên gọi nguyên thỉ của 8 quẻ đó là gì, chỉ biết người đời sau dựa vào
đó mà nghiệm ra sự chuyển vần của trời đất cũng ứng hợp với đời người (Thiên
nhân tương hợp), nên đã gán thêm thuộc tính cho 8 quẻ, và gọi thành Càn (trời),
Khảm (nước), Cấn (núi), Chấn (sấm), Tốn (gió), Ly (lửa), Khôn (đất), Đoài
(đầm).
8
quẻ, mỗi quẻ có 3 gạch này gọi “đơn quái”, sẵn sàng cho việc biến thành “trùng
quái”:
Từ
8 quẻ căn bản, người ta cho chúng “bắt cặp” với nhau, tức chồng lên nhau một
lần nữa, thành ra 64 quẻ Chu Dịch (8 X 8 = 64). Mỗi quẻ Dịch này là 1 “trùng
quái”, tức do 2 “đơn quái” chồng lên nhau mà thành. Mỗi “trùng quái” có 6 gạch
Âm/ Dương khác nhau. 64 quẻ Dịch vậy là có 384 gạch (64 x 6 = 384), những gạch
đó gọi là Hào.
Dựa
theo hình tượng của 64 quẻ và vị thế của 384 hào, đủ để thiên hạ tán dóc mút
mùa Lệ Thủy. Và nếu ai đó rảnh quá, có thể thử đem 64 quẻ Dịch đó chồng lên
nhau thêm lần nữa coi sao, biết đâu lại có phát kiến mới không chừng! Nhưng kệ
ai kia đi, ta không rảnh để theo họ, mà phải trở ngược về, để tìm hiểu 4 mùa 8
tiết 12 tháng.
Vì
thật ra 64 quẻ Chu Dịch đó, có thể gom lại thành 12 quẻ, và lúc đầu cũng chỉ
gồm 12 quẻ thôi, dùng để biểu thị 12 tháng trong năm. Điều kỳ cục oái oăm là
khi sắp xếp vòng tuần hoàn của 12 tháng này (Hình 3), thì dường như cái mà
chúng hiển thị, ngoài lẽ đầy vơi xoay vần của mặt trời mặt trăng, còn cho thấy
hưng vong thành bại của kiếp người: Dịch từ chỗ biểu thị vũ trụ quan đã bước
sang lãnh vực nhân sinh quan. Nhưng ta không đủ công lực để trèo đèo tới mức
đó, nên hú ba hồn bảy vía, đành quay lại tìm hiểu cái nguyên do tại sao các
triều đại Tàu thời xưa phải thay đổi tháng Tết, tức chủ đề của cái tút mắc dịch
này, lêu lêu!
B-
TAM CHINH
“Tam
chinh” là “Tam chính” 三正, tức ba cuộc dời đổi
tháng Giêng. Tháng Giêng, Tàu viết là “Chính nguyệt” 正月, nhưng khi đọc thì chữ “Chính” được
phát âm thành “Chinh”, đồng âm với Chinh trong “Chinh chiến” 征戰. Sự biến âm này để tự nhắc nhở và răn
con cháu: những lần dời dổi tháng Giêng đó đều phải trải qua chiến chinh binh
biến mới có được.
Vài
năm nay, khi tranh luận việc nên chăng dời đổi xào chẻ ngày Tết, người ta
thường nhắc rằng lịch sử Trung Hoa cũng từng nhiều lần thay đổi Nguyên Đán.
Nói
khơi khơi thì vầy: thời nhà Hạ (thế kỷ XXI-XIV trCn), vì vua Hạ chuộng màu đen
nên lấy Dần (tức tháng Giêng) làm tháng Giêng. Sang đời Thương (1766-1122 trCn)
lại thích màu trắng nên lấy Sửu (tức tháng Chạp hiện nay) kể là tháng Giêng.
Đời nhà Chu (1122-249 trCn) lại ưa sắc đỏ nên lấy Tý (tháng Một) làm tháng
Giêng. Cứ thay đổi tới lui xà quần như vậy, cuối cùng tới đời Hán, khi Võ đế
Lưu Triệt (trị vì 141-87 trCn) chọn Dần thì cố định luôn tháng Giêng cho đến
bây giờ.
Sự
dời đổi Tam Chinh chỉ quanh quẩn là chọn tháng nào trong 3 tháng: Tý (tháng Một
hiện nay), Sửu (tháng Chạp), và Dần (tháng Giêng hiện nay) làm tháng Giêng mà thôi.
Thoạt
nghe, cứ tưởng tụi vua chúa Tàu kia khéo giỡn chơi, thay đổi thứ tự tháng Giêng
lung tung tùy hứng theo gu thẩm sắc của riêng mình.
Nhưng
không phải vậy. Ta thử ngó lại hình tuần hoàn của 12 tháng. Đó là các quẻ Kiền/
Càn, Cấu, Độn, Bĩ, Quán, Bác, Khôn, Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quải. Tên 12
quẻ này về sau được thay bằng Thập nhị Địa chi, tức 12 con giáp. Và tụi 3 tháng
Tý-Sửu-Dần ta vừa nói đó là: Phục ở góc 6 giờ; Lâm - góc 7 giờ; và Thái - góc 8
giờ.
Quan
sát hình dạng 3 quẻ này:
-
Quẻ Phục, tức Tý (góc 6 giờ): có tới 5 gạch Âm mà chỉ 1 gạch Dương. Người ta
không tính trên ngọn xuống, mà tính dưới gốc lên, nên quẻ này gọi là “Nhất
Dương sinh”. Tuy chỉ một mình, nhưng “Nhất Dương” làm chủ toàn quẻ, tức đa số
phải phục tùng thiểu số.
Lấy
Tý làm tháng Giêng: đám đông phải do số ít dẫn dắt, đa số phải tuân theo hướng
dẫn của thiểu số (Chúng dĩ quả vi chủ, đa dĩ thiểu vi tôn).
-
Quẻ Lâm, tức Sửu (góc 7 giờ): lúc này, khí Dương lên tới hào 2, nó không cô độc
nữa, mà đã có thêm đồng thanh khí. Lấy Sửu làm tháng Giêng, là đoàn kết nhân
tài chung lo việc nước.
-
Quẻ Thái, tức Dần (góc 8 giờ): có ba gạch Dương, cân bằng với 3 gạch Âm ở trên.
Đây là quẻ trời đất giao hòa. Trong “Bình Ngô đại cáo” có câu: “Càn khôn Bĩ rồi
lại THÁI; nhật nguyệt hối rồi lại minh”, chính là quẻ này.
Ba
hào Dương ở dưới của quẻ Thái tượng trưng tam tài (Thiên-Địa-Nhân) kiện toàn.
Thành ngữ có câu “Tam Dương khai Thái” là nói ba hào Dương này mở ra thái bình
thịnh trị. Chọn Dần làm tháng Giêng là hàm ý tận lực phát triển.
C-
ĐỔI QUA TẾT DƯƠNG LỊCH
Tết
đã là phong tục ít nhất cũng 2.100 năm, tính từ Lưu Triệt đời Hán tới giờ. Nó
ăn sâu vào tâm não, lưu truyền nhiều thế hệ, vậy tụi Tàu có khi nào nghĩ đến
việc bỏ Tết qua chưa?
Rồi,
và không chỉ một lần.
1/-
DO QUỐC DÂN ĐẢNG
Lần
bỏ Tết Âm lịch đầu tiên của Tàu là vào 1928. Quốc dân đảng sau cuộc Bắc phạt
tiêu diệt các thế lực quân phiệt thành công, đã nắm toàn quyền trên đại lục.
Lúc đó, nhằm quét bỏ hủ tục, quyết ý canh tân, nhà cầm quyền ban hành 8 biện
pháp triệt để nhằm cải tạo xã hội Trung Hoa.
Trong
đó, Điều 2: nghiêm cấm mọi hình thức in ấn, phổ biến, sử dụng, tàng trữ, sưu
tầm Âm lịch, và cả Âm Dương lịch đối chiếu (tức chỉ được dùng Dương lịch).
Điều
3: cấm các cơ quan, đoàn thể, nhà trường cho nhân viên, học sinh, sinh viên
nghỉ phép vào Tết Âm lịch.
Điều
4: lệnh các tỉnh thành thông báo đến từng hộ dân về các biện pháp sửa đổi phong
tục để đón chào năm mới theo Dương lịch.
Tới
1930, chính phủ Quốc dân đảng lại ban hành những điều khoản cụ thể hơn hòng xóa
sổ cổ tục: Nghiêm cấm mọi hình thức lễ hội, cúng giỗ, mừng Xuân v.v... theo Âm
lịch; đồng thời nghiêm cấm tất cả mọi cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp, trường học
cho phép nhân viên, học sinh của mình được nghỉ trong thời gian Tết Âm lịch.
Vậy
là Tết đó, chính quyền các cấp đều bận bịu, lo kiểm tra việc cấm Tết trong địa
phận mình quản lý. Từ xí nghiệp lớn cho đến các cửa hiệu nhỏ lẻ đều bị buộc
phải mở cửa hoạt động bình thường, ai bất tuân sẽ bị xử phạt lập tức. Có người
chỉ giữ trong nhà cuốn lịch Âm cũng bị tống giam. Cảnh tượng lúc bấy giờ thiệt
trớ trêu: ngày Tết hóa ra lại là ngày xúi quẩy, đáng sợ nhất trong năm.
Toàn
dân Tàu đã phản ứng lại, bằng cách tuy tuân lệnh không cúng bái trong ngày Tết
Âm lịch, nhưng cũng đấm đách mừng Tết Dương lịch. Và để đối phó, các cửa hiệu
đều viện cớ này nọ để nghỉ Tết Nguyên Đán, nhiều nhà buôn treo bảng thông báo
trước cửa: “Vì lý do tu sửa cửa hiệu, hay do bà con tụ họp, hoặc bởi bị con heo
nhảy nọc con bò, v.v... Nên bổn hiệu đóng cửa 5 ngày, kể từ... (5 ngày kê ra đó
là trùng với Mùng Một đến Mùng Năm Tết)”.
Năm
sau thì chính quyền chẳng nhắc tới lệnh cấm Tết cổ truyền nữa. Tới 1934, chỉ
còn một thông báo ngắn gọn, ban hành hạn chế trong các cơ quan công quyền, là
không được nghỉ Tết Âm lịch. Qua 1935, thông báo ngắn gọn đó cũng không còn.
2/-
DO “VĂN CÁCH”
1966,
Mao Trạch Đông tiến hành “Cách mạng văn hóa”. Nhà nước Trung cộng ra thông cáo
hiệu triệu toàn dân đẩy lùi đồi phong bại tục, quyết tâm “cách mạng hóa”, “tích
cực hóa” Tết cổ truyền: vào 3 ngày cuối tháng Chạp, toàn thể cán bộ, chiến sĩ,
nhân dân cả nước đều đồng lòng không nghỉ Tết, quyết tâm thi đua tăng gia sản
xuất. Trừ tịch, mọi người nấu mâm cơm bằng các thứ nguyên liệu (gạo, rau, thức
ăn) xấu, tệ nhất. Cơm đó gọi cơm “Ức khổ” (nhớ về thời khổ cực), tức để ôn về
hồi trước khi “cách mạng” thành công, toàn dân phải đắm chìm trong bể trần ai
lai khổ. Qua sáng mùng Một Tết, mạnh ai nấy vác cuốc ra đồng, thi hành nhiệm vụ
vinh quang do đảng giao phó.
Và,
1977, liền sau khi Đông trút vãi linh hồn, Tết cổ truyền được phục hồi trên
toàn đại lục: lãnh tụ chết đi, mùa Xuân lại về.


